Không còn đơn thuần là "tấm giấy thông hành" để đưa nông sản vào các thị trường xuất khẩu, mã số vùng trồng đang được định vị theo một vai trò mới: trở thành hạ tầng quản lý của ngành trồng trọt trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập sâu rộng và yêu cầu ngày càng cao về minh bạch chuỗi cung ứng. Thông điệp này được Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh tại Hội nghị "Sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2026 và triển khai kế hoạch 6 tháng cuối năm 2026" ngày 23/7, mở ra cách tiếp cận mới trong quản lý nhà nước đối với vùng nguyên liệu phục vụ xuất khẩu.
![]() |
| Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp phát biểu tại Hội nghị "Sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2026 và triển khai kế hoạch 6 tháng cuối năm 2026" - (Ảnh: Bảo Thắng) |
Nhiều năm qua, không ít địa phương bắt đầu câu chuyện xuất khẩu bằng việc thành lập hợp tác xã, tổ hợp tác hoặc vùng sản xuất tập trung để đáp ứng điều kiện cấp mã số vùng trồng. Cách làm này góp phần chuẩn hóa sản xuất, đáp ứng yêu cầu của các thị trường nhập khẩu như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU) hay nhiều quốc gia khác. Tuy nhiên, trong thực tế, việc liên kết giữa nông dân ở nhiều nơi chủ yếu nhằm hoàn thiện hồ sơ hành chính, trong khi hợp tác xã đôi khi trở thành điều kiện bắt buộc hơn là nhu cầu tự thân của người sản xuất.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp, tư duy này cần được thay đổi. "Không nên coi việc thành lập hợp tác xã hay tổ chức sản xuất là điều kiện tiên quyết để được cấp mã số vùng trồng", Thứ trưởng nhấn mạnh. Thay vào đó, cơ quan quản lý cần cấp mã theo đề nghị của người dân, theo trình tự rút gọn thủ tục hành chính. Khi một vùng trồng có mã số, đủ điều kiện xuất khẩu và tạo ra giá trị gia tăng, chính người sản xuất sẽ chủ động tham gia liên kết để nâng cao sức cạnh tranh.
Quan điểm này cho thấy sự thay đổi căn bản trong phương thức quản lý. Nếu trước đây vùng nguyên liệu được hình thành chủ yếu thông qua các yêu cầu về tổ chức sản xuất và điều kiện thủ tục thì nay thị trường sẽ đóng vai trò quyết định. Liên kết sản xuất không còn là điểm khởi đầu mà trở thành kết quả của quá trình phát triển thị trường. Chính lợi ích kinh tế và cơ hội xuất khẩu sẽ tạo động lực để nông dân tự nguyện liên kết, thay vì hình thành các mô hình mang tính hành chính.
Thực tiễn triển khai cho thấy cách tiếp cận mới đã có cơ sở. Báo cáo của Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cho biết đến giữa tháng 7/2026, các địa phương đã cấp 481 mã số vùng trồng và 349 mã số cơ sở đóng gói, phục vụ xuất khẩu nhiều loại trái cây như sầu riêng, chuối, bưởi, xoài, mít, thanh long, dừa... sang Trung Quốc, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, EU, New Zealand và nhiều thị trường khác.
Song song với việc mở rộng cấp mã, Cục cũng đã trình Chính phủ xem xét ban hành nghị quyết đơn giản hóa thủ tục hành chính đối với mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói. Điều đó cho thấy mã số vùng trồng không còn chỉ phục vụ riêng một thị trường hay một mặt hàng, mà đang từng bước trở thành hạ tầng chung của hoạt động xuất khẩu nông sản Việt Nam.
Tuy nhiên, mở rộng số lượng mã số mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ nằm ở việc duy trì chất lượng vùng nguyên liệu sau khi được cấp mã. Trong 6 tháng đầu năm 2026, số cảnh báo đối với các lô hàng nông sản xuất khẩu tăng 56 vụ so với cùng kỳ năm 2025. Đây là tín hiệu cho thấy yêu cầu quản lý không thể dừng lại ở khâu cấp phép.
Để đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường, toàn bộ quá trình sản xuất phải được kiểm soát đồng bộ, từ giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đến nhật ký canh tác, kiểm soát dư lượng và truy xuất nguồn gốc. Vì vậy, cùng với việc mở rộng cấp mã, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật xác định nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới là tăng cường hậu kiểm, phối hợp chặt chẽ với địa phương để quản lý vùng nguyên liệu thay vì chỉ tập trung vào khâu cấp phép.
Đề cập vấn đề này, Cục trưởng Huỳnh Tấn Đạt cho rằng kiểm soát dư lượng, tuyên truyền sản xuất bền vững và đặc biệt là truy xuất nguồn gốc vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần tháo gỡ. "Nếu không xử lý những mắt xích này, mã số vùng trồng khó phát huy hết vai trò trong việc nâng cao giá trị xuất khẩu", ông bày tỏ.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp, mục tiêu cuối cùng của quản lý nhà nước không phải là tạo thêm thủ tục mà là tháo gỡ điểm nghẽn cho người dân và doanh nghiệp, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh. "Khi không còn dành quá nhiều nguồn lực cho tiền kiểm, cơ quan quản lý sẽ có điều kiện tập trung vào xây dựng cơ sở dữ liệu, dự báo thị trường, hướng dẫn kỹ thuật và tăng cường hậu kiểm", Thứ trưởng nói.
![]() |
| Quang cảnh tại Hội nghị "Sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2026 và triển khai kế hoạch 6 tháng cuối năm 2026" - (Ảnh: Bảo Thắng) |
Những chuyển biến này đã được Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật triển khai từ đầu năm 2026. Riêng thủ tục hành chính đã giảm 47% thời gian giải quyết và hơn 34% chi phí tuân thủ. Đồng thời, ngành đang xây dựng nền tảng dữ liệu chuyên ngành, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia nhằm phục vụ quản lý trên môi trường số.
Áp lực từ thị trường xuất khẩu càng khiến quá trình chuyển đổi trở nên cấp thiết hơn. Phó Cục trưởng Nguyễn Quốc Mạnh cho biết 6 tháng cuối năm là giai đoạn quyết định đối với nhiều mặt hàng chủ lực khi 60-75% sản lượng xuất khẩu chuối và sầu riêng tập trung trong thời kỳ này. Đối với cà phê, mục tiêu xuất khẩu 9 tỷ USD, trong đó hơn 40% sản lượng xuất khẩu sang châu Âu, khiến các quy định về EUDR, truy xuất nguồn gốc và minh bạch chuỗi sản xuất tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam.
Không chỉ chịu áp lực từ thị trường, ngành trồng trọt còn đối mặt với những rủi ro từ biến đổi khí hậu. Hiện tượng El Nino được dự báo sẽ ảnh hưởng mạnh đến vụ đông xuân 2026-2027, trong khi vùng cà phê Arabica Tây Bắc cần được đánh giá đầy đủ hơn về tác động của sương muối theo chu kỳ 5-6 năm. Những thách thức này đòi hỏi hệ thống dữ liệu đủ lớn để dự báo, cảnh báo và hỗ trợ người sản xuất điều chỉnh kế hoạch canh tác kịp thời.
Bức tranh chung của ngành trồng trọt trong 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực. Giá trị sản xuất toàn ngành ước tăng 2,7%, vượt mục tiêu 2,63% được Bộ giao; riêng quý II tăng khoảng 3%. Diện tích cây ăn quả cả nước đạt 1,302 triệu ha, tăng khoảng 20.000 ha so với cùng kỳ. Sản lượng xoài đạt 1,25 triệu tấn, tăng 57,6%; sầu riêng đạt 800.000 tấn, tăng 15%; dứa đạt 460.000 tấn; vải 170.000 tấn, trong khi nhãn đạt 180.000 tấn.
Đối với cây công nghiệp, cả nước có 758.000 ha cà phê, sản lượng khoảng 2,116 triệu tấn, tăng 5%, cùng 914.200 ha cao su, 299.000 ha điều và 128.100 ha chè. Trong lĩnh vực vật tư nông nghiệp, lượng phân bón nhập khẩu đạt khoảng 1,67 triệu tấn (552,8 triệu USD), giảm 33,4% so với cùng kỳ, trong khi xuất khẩu đạt khoảng 1,375 triệu tấn (735,1 triệu USD), tăng 34,5%. Cục cũng đã đăng ký mới 348 loại thuốc bảo vệ thực vật, trong đó có 30 thuốc sinh học.
Cùng với đó, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đã trình ban hành 3 nghị định, 4 thông tư, xây dựng hồ sơ 2 nghị quyết về cắt giảm thủ tục hành chính và phân cấp; rà soát 123 văn bản liên quan đến truy xuất nguồn gốc nông sản, đề xuất bãi bỏ 39 văn bản trong lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật. Đồng thời, Cục đang triển khai 15 chương trình, đề án, trong đó Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp đã được 100% địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long tham gia.
Từ một công cụ phục vụ cấp phép xuất khẩu, mã số vùng trồng đang từng bước trở thành nền tảng quản lý hiện đại của ngành nông nghiệp. Khi dữ liệu, truy xuất nguồn gốc, hậu kiểm và cải cách thủ tục được triển khai đồng bộ, cơ quan quản lý sẽ chuyển từ vai trò "cấp phép" sang "kiến tạo", hỗ trợ người dân và doanh nghiệp thích ứng với các tiêu chuẩn quốc tế, mở rộng thị trường và nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường toàn cầu.
Tánh Chân/ TH

