Bài 2 - Xuất khẩu cây cảnh: Nắm vững quy định về nguồn gen giống cây trồng để tránh vi phạm

Không chỉ đáp ứng yêu cầu về chất lượng và kiểm dịch, doanh nghiệp xuất khẩu cây cảnh còn phải tuân thủ các quy định về nguồn gen giống cây trồng. Việc hiểu đúng quy định sẽ giúp tránh vi phạm pháp luật, bảo vệ tài nguyên di truyền và nâng cao uy tín xuất khẩu.

Những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành hoa, cây cảnh, hoạt động xuất khẩu cây cảnh của Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực. Nhiều sản phẩm bonsai, cây cảnh nghệ thuật, cây giống và các loại hoa đã từng bước khẳng định chỗ đứng tại các thị trường khó tính như Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên minh châu Âu (EU), Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác. Tuy nhiên, bên cạnh việc đáp ứng các quy định về hải quan, kiểm dịch thực vật và tiêu chuẩn kỹ thuật của nước nhập khẩu, doanh nghiệp còn phải đặc biệt quan tâm đến các quy định về bảo tồn nguồn gen giống cây trồng, nhất là danh mục nguồn gen giống cây trồng cấm xuất khẩu theo quy định của pháp luật.

Bài 2 - Xuất khẩu cây cảnh: Nắm vững quy định về nguồn gen giống cây trồng để tránh vi phạm
Không chỉ đáp ứng yêu cầu về chất lượng và kiểm dịch, doanh nghiệp xuất khẩu cây cảnh còn phải tuân thủ các quy định về nguồn gen giống cây trồng. - (Ảnh minh họa)

Đây không chỉ là yêu cầu bắt buộc nhằm bảo đảm tuân thủ quy định pháp luật, mà còn góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên di truyền quý giá của quốc gia, phục vụ công tác nghiên cứu, chọn tạo giống và phát triển nền nông nghiệp bền vững.

Theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 07/2026/TT-BNNMT, công tác bảo tồn nguồn gen giống cây trồng được thực hiện đồng bộ từ khâu điều tra, thu thập, lưu giữ, đánh giá đến xây dựng cơ sở dữ liệu và chia sẻ thông tin.

Trong đó, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật căn cứ nhu cầu và điều kiện thực tế để đặt hàng các tổ chức, cá nhân có đủ năng lực tiến hành điều tra, thu thập định kỳ nguồn gen giống cây trồng. Nguồn gen có thể được thu thập dưới nhiều dạng khác nhau như hạt giống, cây giống, hom giống, củ giống hoặc vật liệu di truyền, tùy thuộc từng loài cây trồng.

Đáng chú ý, toàn bộ quá trình điều tra, thu thập phải được tư liệu hóa đầy đủ với các thông tin về địa điểm, thời gian, loại mẫu vật, số lượng cũng như phương thức thu thập. Đây là cơ sở quan trọng để phục vụ công tác quản lý, nghiên cứu và khai thác nguồn gen trong tương lai.

Song song với hoạt động thu thập, việc lưu giữ nguồn gen cũng được quy định rất chặt chẽ. Theo Thông tư 07/2026/TT-BNNMT, nguồn gen giống cây trồng được lưu giữ tại các đơn vị được giao nhiệm vụ bảo tồn tài nguyên thực vật theo đặt hàng của Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật.

Tùy theo điều kiện thực tế, nguồn gen có thể được bảo tồn theo hình thức lưu giữ chuyển chỗ (ex-situ) hoặc lưu giữ tại chỗ (in-situ).

Đối với hình thức lưu giữ chuyển chỗ, nguồn gen được bảo quản ngoài phạm vi phát sinh của giống cây trồng trong kho lạnh, nitơ lạnh, lưu giữ trong ống nghiệm (in-vitro), lưu giữ vật liệu di truyền hoặc bảo tồn trên đồng ruộng. Trong khi đó, lưu giữ tại chỗ được thực hiện ngay tại khu vực phát sinh tự nhiên của giống cây trồng nhằm duy trì khả năng thích nghi và phát triển của nguồn gen trong điều kiện sinh thái bản địa.

Không chỉ dừng ở việc bảo quản, nguồn gen giống cây trồng còn được đánh giá thông qua nhiều hoạt động như giải mã gen, đánh giá các chỉ tiêu nông học, sinh học và giá trị sử dụng của từng nguồn gen.

Theo nhu cầu khai thác và sử dụng thông tin, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật sẽ đặt hàng các tổ chức, cá nhân có đủ năng lực thực hiện giải mã gen và đánh giá đặc tính của từng nguồn gen nhằm phục vụ công tác nghiên cứu, chọn tạo giống cũng như phát triển sản xuất.

Một nội dung quan trọng khác được Thông tư quy định là việc thiết lập, lưu giữ và chia sẻ dữ liệu nguồn gen giống cây trồng.

Theo đó, dữ liệu được xây dựng từ các kết quả điều tra, thu thập, lưu giữ, đánh giá và các nguồn thông tin liên quan. Dữ liệu có thể được lưu giữ dưới nhiều hình thức như phiếu điều tra, phiếu mô tả, phiếu đánh giá, tiêu bản, hình ảnh, bản đồ phân bố, các ấn phẩm thông tin hoặc cơ sở dữ liệu số hóa.

Toàn bộ dữ liệu được lưu giữ tại đơn vị được giao nhiệm vụ bảo tồn tài nguyên thực vật và việc chia sẻ dữ liệu nguồn gen quốc gia được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành.

Đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu cây cảnh, nội dung cần đặc biệt quan tâm là Danh mục nguồn gen giống cây trồng cấm xuất khẩu được quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư 07/2026/TT-BNNMT.

Danh mục này bao gồm nhiều nguồn gen có giá trị đặc biệt về kinh tế, khoa học và đa dạng sinh học.

Đối với nhóm cây công nghiệp và cây ăn quả (trừ hạt trong quả xuất khẩu), các nguồn gen cấm xuất khẩu gồm các giống chè Shan bản địa; cam Bù, cam Bố Hạ, cam Xã Đoài, cam Đường Canh; bưởi Năm Roi, Thanh Trà, Phúc Trạch, Đoan Hùng, Phú Diễn, Da xanh; nhãn lồng Hưng Yên, nhãn tiêu Da bò, nhãn Xuồng cơm vàng; vải thiều Thanh Hà, vải thiều Hùng Long; xoài Cát Hòa Lộc, xoài Cát Chu; mơ Hương Tích; các giống thanh long bản địa; sầu riêng Chín Hóa, sầu riêng Ri-6 Sâm Ngọc Linh.

Bài 2 - Xuất khẩu cây cảnh: Nắm vững quy định về nguồn gen giống cây trồng để tránh vi phạm
Doanh nghiệp cần chủ động xác định rõ nguồn gốc giống cây, mục đích xuất khẩu và đối chiếu với danh mục nguồn gen cấm xuất khẩu trước khi ký kết hợp đồng với đối tác nước ngoài.

Đây đều là những nguồn gen quý, có giá trị đặc biệt đối với công tác nghiên cứu, chọn tạo giống và phát triển nông nghiệp Việt Nam. Việc quy định danh mục cấm xuất khẩu nhằm ngăn ngừa nguy cơ thất thoát nguồn tài nguyên di truyền, bảo đảm lợi ích lâu dài của quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt về giống cây trồng trên thế giới.

Trên thực tế, không ít doanh nghiệp còn nhầm lẫn giữa xuất khẩu cây cảnh thương phẩm với xuất khẩu nguồn gen giống cây trồng. Việc xuất khẩu cây cảnh thương mại phục vụ tiêu dùng, trưng bày hoặc sản xuất thông thường không đồng nghĩa với việc được phép xuất khẩu nguồn gen thuộc danh mục quản lý đặc biệt.

Do đó, doanh nghiệp cần chủ động xác định rõ nguồn gốc giống cây, mục đích xuất khẩu và đối chiếu với danh mục nguồn gen cấm xuất khẩu trước khi ký kết hợp đồng với đối tác nước ngoài.

Bên cạnh đó, việc lưu giữ đầy đủ hồ sơ về nguồn gốc giống cây, chứng từ liên quan, hồ sơ nhân giống và các giấy tờ chuyên ngành cũng là cơ sở quan trọng để chứng minh tính hợp pháp của hàng hóa khi cơ quan chức năng kiểm tra.

Thông tư số 07/2026/TT-BNNMT cũng quy định rõ phạm vi điều chỉnh, bao gồm việc hướng dẫn chi tiết khoản 5 Điều 67 Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 2013(được sửa đổi, bổ sung bởi Luật sửa đổi 15 luật trong lĩnh vực Nông nghiệp và Môi trường năm 2025), đồng thời hướng dẫn nhiều nội dung của Luật Trồng trọt năm 2018 đã được sửa đổi, bổ sung. Bên cạnh đó, Thông tư còn sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư trong lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật, góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý về quản lý giống cây trồng.

Có thể thấy, trong bối cảnh xuất khẩu hoa và cây cảnh tiếp tục được kỳ vọng trở thành ngành hàng có giá trị cao, việc tuân thủ đầy đủ các quy định về bảo tồn nguồn gen giống cây trồng không chỉ giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro pháp lý mà còn thể hiện trách nhiệm đối với việc gìn giữ nguồn tài nguyên di truyền quốc gia. Cùng với việc thực hiện đúng quy định về hải quan, kiểm dịch thực vật, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn kỹ thuật, nắm vững các quy định của Thông tư 07/2026/TT-BNNMT sẽ là nền tảng quan trọng để doanh nghiệp phát triển hoạt động xuất khẩu cây cảnh một cách bền vững, hiệu quả và đúng pháp luật.

Ý kiến chuyên gia ngành nông nghiệp:

PGS.TS. Đặng Văn Đông, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Rau quả:

Trao đổi với Tạp chí Việt Nam hương sắc, PGS.TS. Đặng Văn Đông, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Rau quả cho rằng, xuất khẩu hoa, cây cảnh, cây giống và vật liệu nhân giống là lĩnh vực có nhiều tiềm năng phát triển nhưng cũng có yêu cầu pháp lý phức tạp hơn nhiều so với xuất khẩu nông sản thông thường. Hoạt động này đồng thời chịu sự điều chỉnh của các quy định về giống cây trồng, bảo vệ nguồn gen, quyền sở hữu trí tuệ, kiểm dịch thực vật, an toàn sinh học cũng như các tiêu chuẩn kỹ thuật của từng quốc gia nhập khẩu.

Theo PGS.TS. Đặng Văn Đông, điều đầu tiên doanh nghiệp và các nhà vườn cần thực hiện là xác định chính xác đối tượng xuất khẩu có phải là nguồn gen hoặc vật liệu nhân giống hay không. Đối với cây cảnh, không chỉ cây hoàn chỉnh mà cả cành, hom, mắt ghép, củ, thân rễ, hạt giống, mô nuôi cấy hoặc bất kỳ bộ phận sống nào có khả năng tái sinh đều có thể được xem là vật liệu mang nguồn gen.

Vì vậy, trước khi ký kết hợp đồng xuất khẩu, doanh nghiệp cần xác định rõ tên loài, tên giống, nguồn gốc giống, dạng vật liệu xuất khẩu, khả năng sử dụng làm vật liệu nhân giống, đồng thời rà soát xem giống đó có thuộc Danh mục nguồn gen giống cây trồng cấm xuất khẩu hay không; đã được công nhận lưu hành, tự công bố lưu hành hoặc được bảo hộ quyền đối với giống cây trồng hay chưa và doanh nghiệp có đầy đủ quyền hợp pháp để nhân giống, kinh doanh giống đó hay không. Theo ông, không nên chỉ căn cứ vào tên gọi thương mại của sản phẩm, bởi nhiều sản phẩm được gọi là "cây cảnh" nhưng thực chất vẫn là vật liệu nhân giống.

PGS.TS. Đặng Văn Đông cũng lưu ý doanh nghiệp tuyệt đối không tìm cách xuất khẩu nguồn gen thuộc Danh mục cấm dưới các hình thức trá hình như quà tặng, hành lý cá nhân, mẫu triển lãm, cây cảnh thành phẩm, hom giống, mắt ghép hoặc mô nuôi cấy nhằm né tránh quy định của pháp luật. Việc bảo vệ nguồn gen chỉ thực sự hiệu quả khi quản lý được tất cả các dạng vật liệu có khả năng tái sinh. Thông tư số 07/2026/TT-BNNMT đã quy định rõ nguồn gen có thể tồn tại dưới dạng hạt giống, cây giống, hom giống, củ giống hoặc vật liệu di truyền, đồng thời ban hành Danh mục nguồn gen giống cây trồng cấm xuất khẩu tại Phụ lục I.

Đối với các giống cây trồng không thuộc Danh mục cấm xuất khẩu, doanh nghiệp vẫn cần kiểm tra đầy đủ các điều kiện pháp lý trước khi đưa ra thị trường quốc tế. Theo quy định của Thông tư 07/2026/TT-BNNMT, đối với giống cây trồng hoặc hạt lai của giống chưa được cấp quyết định công nhận lưu hành hoặc chưa tự công bố lưu hành nhưng phục vụ mục đích nghiên cứu, khảo nghiệm, quảng cáo, triển lãm hoặc hợp tác quốc tế không vì mục đích thương mại thì phải thực hiện thủ tục xin cấp giấy phép xuất khẩu theo quy định. Hồ sơ bao gồm các tài liệu như văn bản đề nghị cấp phép, tờ khai kỹ thuật và các giấy tờ chứng minh mục đích xuất khẩu. Đối với hoạt động xuất khẩu thương mại, doanh nghiệp vẫn phải tiếp tục đáp ứng đầy đủ các quy định về lưu hành giống, quyền đối với giống cây trồng, chất lượng giống, kiểm dịch thực vật, thủ tục hải quan cũng như các yêu cầu nhập khẩu của nước đối tác.

Một nội dung quan trọng khác được PGS.TS. Đặng Văn Đông nhấn mạnh là việc tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ và quyền đối với giống cây trồng. Theo ông, một giống cây có thể không thuộc Danh mục nguồn gen cấm xuất khẩu nhưng vẫn đang được bảo hộ quyền đối với giống cây trồng hoặc thuộc quyền khai thác của tổ chức, cá nhân khác. Khi đó, việc nhân giống, kinh doanh, xuất khẩu hoặc sử dụng vật liệu nhân giống phải được sự đồng ý của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Doanh nghiệp cần lưu giữ đầy đủ hồ sơ về nguồn giống, hợp đồng chuyển giao, quyền nhân giống, hóa đơn, mã lô và các tài liệu chứng minh nguồn gốc hợp pháp nhằm hạn chế tranh chấp pháp lý và nâng cao uy tín trên thị trường quốc tế.

Bên cạnh các yêu cầu pháp lý, doanh nghiệp cũng phải tuân thủ nghiêm các quy định về kiểm dịch thực vật và an toàn sinh học. Theo PGS.TS. Đặng Văn Đông, cây sống và vật liệu nhân giống luôn tiềm ẩn nguy cơ mang theo sâu bệnh, tuyến trùng, nấm, vi khuẩn hoặc virus. Do đó, doanh nghiệp cần xây dựng vùng sản xuất sạch bệnh, quản lý tốt cây mẹ, kiểm soát chất lượng lô giống, xử lý giá thể, làm sạch đất bám trên bộ rễ, đáp ứng đầy đủ yêu cầu về mã số cơ sở sản xuất, chứng thư kiểm dịch thực vật cũng như các biện pháp xử lý theo yêu cầu của từng thị trường nhập khẩu. Một số quốc gia còn yêu cầu phân tích nguy cơ dịch hại, quy định về giá thể, loài ngoại lai, bao gói, ghi nhãn và truy xuất nguồn gốc, đây đều là những điều kiện bắt buộc để phát triển thị trường bền vững.

Theo PGS.TS. Đặng Văn Đông, để vừa mở rộng xuất khẩu vừa bảo vệ hiệu quả nguồn gen, Việt Nam cần định hướng chuyển mạnh sang xuất khẩu các sản phẩm có giá trị gia tăng cao thay vì xuất khẩu trực tiếp nguồn gen gốc. Trong đó, cần ưu tiên phát triển và thương mại hóa các giống mới do Việt Nam chọn tạo và được bảo hộ; cây giống có bản quyền; cây cảnh thành phẩm đã qua quá trình tạo dáng, chăm sóc; hoa cắt cành; các sản phẩm trang trí không còn khả năng nhân giống; công nghệ, quy trình kỹ thuật, dịch vụ thiết kế cảnh quan cũng như các sản phẩm mang thương hiệu và chỉ dẫn địa lý của Việt Nam. Đối với các nguồn gen đặc biệt quý hiếm, nên khai thác giá trị thông qua sản phẩm cuối cùng, thương hiệu vùng miền hoặc phát triển du lịch trải nghiệm thay vì xuất khẩu trực tiếp vật liệu nhân giống.

Ông cũng cho rằng, trong bối cảnh chuyển đổi số, việc xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc đối với cây cảnh và cây giống xuất khẩu là yêu cầu tất yếu. Mỗi lô hàng cần có hồ sơ đầy đủ về giống, nguồn cây mẹ, cơ sở nhân giống, phương pháp nhân giống, thời gian sản xuất, tình trạng kiểm dịch cũng như quyền sở hữu hoặc quyền khai thác giống. Về lâu dài, cần hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia và mã định danh nguồn giống, ứng dụng mã QR hoặc hộ chiếu cây trồng điện tử để vừa hỗ trợ cơ quan quản lý kiểm soát nguồn gen, vừa giúp doanh nghiệp chứng minh tính hợp pháp, chất lượng và khả năng truy xuất nguồn gốc của sản phẩm trên thị trường quốc tế.

PGS.TS. Đặng Văn Đông nhấn mạnh, bảo vệ nguồn gen và phát triển xuất khẩu không phải là hai mục tiêu đối lập. Điều quan trọng là lựa chọn đúng sản phẩm để xuất khẩu, bảo đảm minh bạch về nguồn gốc, tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật, đồng thời từng bước chuyển từ xuất khẩu vật liệu di truyền quý sang xuất khẩu giống mới, sản phẩm có bản quyền, công nghệ, chất lượng và thương hiệu Việt Nam, qua đó nâng cao giá trị gia tăng và phát triển ngành hoa, cây cảnh theo hướng hiện đại, bền vững.

TS. Trần Duy Dương, Viện Di truyền, Bộ Nông nghiệp và Môi trường:

Trao đổi với Tạp chí Việt Nam hương sắc, TS. Trần Duy Dương, Viện Di truyền, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, Việt Nam hiện đang sở hữu nguồn tài nguyên di truyền cây trồng rất phong phú, trong đó nhiều nguồn gen quý vẫn được người dân, các nhà vườn và cộng đồng địa phương lưu giữ, bảo tồn qua nhiều thế hệ. Đây là lợi thế quan trọng đối với phát triển nông nghiệp, song cũng đặt ra yêu cầu phải tăng cường công tác quản lý nhằm ngăn ngừa nguy cơ thất thoát nguồn gen ra nước ngoài.

Theo TS. Trần Duy Dương, để bảo tồn hiệu quả nguồn gen giống cây trồng, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước, các viện nghiên cứu, địa phương, doanh nghiệp và chính người dân. Trước hết, cần nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của nguồn gen bản địa. Đây không chỉ là tài sản của từng hộ dân mà còn là tài sản di truyền của quốc gia, có ý nghĩa đặc biệt đối với an ninh giống cây trồng và sự phát triển bền vững của nền nông nghiệp.

Bên cạnh đó, việc bảo tồn tại chỗ (in situ) cần tiếp tục được chú trọng thông qua duy trì sản xuất các giống bản địa, giống đặc sản ngay tại vùng phân bố truyền thống. Đồng thời, người dân và địa phương cần phối hợp với các viện nghiên cứu để đánh giá, phục tráng và lưu giữ nguồn vật liệu giống gốc, bảo đảm gìn giữ đầy đủ các đặc tính quý của từng giống cây trồng.

TS. Trần Duy Dương cũng nhấn mạnh, người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp cần tuân thủ nghiêm các quy định của pháp luật về quản lý và chia sẻ nguồn gen. Khi có nhu cầu trao đổi, chuyển giao hoặc cung cấp vật liệu giống cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước phải thực hiện thông qua cơ quan có thẩm quyền, tuyệt đối không tự ý mua bán hoặc chuyển giao vật liệu di truyền, nhất là đối với các nguồn gen thuộc danh mục cấm xuất khẩu theo quy định hiện hành.

Theo ông, một giải pháp quan trọng khác là tăng cường liên kết giữa người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và các viện nghiên cứu nhằm vừa bảo tồn hiệu quả nguồn gen, vừa khai thác hợp lý thông qua nghiên cứu, chọn tạo giống mới, xây dựng thương hiệu, phát triển chỉ dẫn địa lý và hình thành chuỗi giá trị cho các sản phẩm đặc sản của Việt Nam.

Để khuyến khích cộng đồng tham gia tích cực vào công tác bảo tồn nguồn gen, TS. Trần Duy Dương cho rằng ngành nông nghiệp cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp như hoàn thiện hệ thống hướng dẫn kỹ thuật về điều tra, thu thập, lưu giữ và bảo tồn nguồn gen tại địa phương; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về nguồn gen cây trồng kết nối với các địa phương và các tổ chức nghiên cứu; đồng thời có cơ chế hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động bảo tồn, phục tráng, nhân giống và lưu giữ các giống cây trồng quý hiếm.

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh công tác đào tạo, tập huấn, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao năng lực cho người dân, hợp tác xã trong bảo tồn nguồn gen; đồng thời xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và cộng đồng địa phương khi nguồn gen được khai thác phục vụ nghiên cứu, chọn tạo giống hoặc thương mại hóa. Theo TS. Trần Duy Dương, đây sẽ là động lực quan trọng để người dân chủ động tham gia gìn giữ và phát huy giá trị các nguồn gen quý.

TS. Trần Duy Dương cho biết thêm, trong thời gian tới, cùng với việc triển khai Thông tư số 07/2026/TT-BNNMT, ngành nông nghiệp sẽ tiếp tục phối hợp với các viện nghiên cứu, trong đó có Viện Di truyền, các trường đại học và các địa phương để xây dựng mạng lưới bảo tồn nguồn gen từ Trung ương đến cơ sở. Mục tiêu là bảo vệ an toàn các nguồn gen quý của Việt Nam, đồng thời khai thác hiệu quả nguồn vật liệu di truyền phục vụ công tác chọn tạo các giống cây trồng có năng suất, chất lượng cao, thích ứng với biến đổi khí hậu và đáp ứng yêu cầu phát triển nền nông nghiệp hiện đại, xanh và bền vững.

Xem và tải:

1. Thông tư số 07/2026/TT-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường: Quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật, Luật Trồng trọt và sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư trong lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật

2. Phụ lục kèm theo Thông tư 07/2026/TT-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường

3. Chính phủ vừa ban hành Nghị định 292/2026/NĐ-CP ngày 22/7/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý ngoại thương. Một trong các nội dung đáng chú ý của Nghị định là quy định về hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu. (Trong có một số mặt hàng thuộc lĩnh vực nông nghiệp)

Nghị định 292/2026/NĐ-CP ngày 22/7/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý ngoại thương.

Phạm Hùng