Từ giấy lưu hành phân bón đến thuốc BVTV xuất khẩu: Điểm nghẽn nhìn từ thị trường phân bón và thuốc BVTV

Khi thị trường phân bón liên tục biến động và nông sản xuất khẩu phải đáp ứng những yêu cầu mới, doanh nghiệp đang đối mặt không ít điểm nghẽn từ thủ tục đến danh mục thuốc BVTV. Khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn cần sớm được thu hẹp.

Từ nghị trường đến đồng ruộng, từ thị trường phân bón trong nước đến những đơn hàng cây kiểng lá xuất khẩu sang châu Âu, một vấn đề đang được đặt ra ngày càng rõ: tốc độ vận động của thị trường đang nhanh hơn khả năng cập nhật của một số cơ chế quản lý. Khi yêu cầu sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu thay đổi, doanh nghiệp không chỉ cần pháp luật chặt chẽ mà còn cần chính sách đủ linh hoạt để thích ứng.

Tại phiên thảo luận sửa đổi 10 luật nhằm tháo gỡ điểm nghẽn về thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong nông nghiệp và môi trường chiều 12/8, 25 đại biểu Quốc hội phát biểu, tập trung vào những quy định tác động trực tiếp đến sản xuất, kinh doanh, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.

Nhiều đại biểu đồng tình với việc cắt giảm thủ tục, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Tuy nhiên, giảm thủ tục không đồng nghĩa giảm trách nhiệm quản lý. Khi chuyển sang hậu kiểm, Nhà nước phải có đủ con người, nguồn lực, dữ liệu và cơ chế giám sát.

Từ giấy lưu hành phân bón đến thuốc BVTV xuất khẩu: Điểm nghẽn nhìn từ thị trường phân bón và thuốc BVTV
ĐBQH Nguyễn Lê Ngọc Linh (Thanh Hóa) phát biểu tại hội trường chiều 12/8 về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. - (Ảnh: Phạm Thắng)

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Lê Ngọc Linh, Giám đốc HTX Bản Thổ, thành viên mạng lưới ALiSEA, đưa những vấn đề từ sản xuất vùng miền núi vào nghị trường. Từ giống cây trồng, phân bón đến thuốc BVTV, vấn đề không chỉ là giảm bao nhiêu thủ tục mà còn là sau khi giảm tiền kiểm, ai sẽ bảo vệ người nông dân trước những rủi ro phát sinh?

Nhìn từ thị trường phân bón và thuốc BVTV, câu hỏi này càng rõ hơn: trong khi một số thủ tục cần được đơn giản hóa thì cơ chế cập nhật, phản ứng trước những thay đổi của thị trường cũng cần nhanh và linh hoạt hơn.

Giấy lưu hành phân bón và áp lực chi phí

Phân bón là đầu vào thiết yếu của sản xuất nông nghiệp. Theo quy định hiện hành, chức năng quản lý nhà nước về sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu và chất lượng phân bón đã được chuyển sang lĩnh vực nông nghiệp từ cuối năm 2017.

Theo ông T.H.Q, Giám đốc một doanh nghiệp phân bón cung cấp tại thị trường miền Bắc, thủ tục cấp giấy lưu hành phân bón còn mất khá nhiều thời gian và chi phí.

Ông Quân cho biết, trước đây khi phân bón thuộc sự quản lý của Bộ Công Thương, doanh nghiệp không phải thực hiện thủ tục giấy lưu hành theo cách hiện nay. Sau khi chuyển sang Bộ Nông nghiệp, mỗi sản phẩm, đặc biệt là công thức mới, phải thực hiện thủ tục cấp giấy lưu hành.

Mỗi công thức mới kéo theo hồ sơ, thời gian, chi phí và nguồn lực. Trong bối cảnh giá nguyên liệu đầu vào tăng, cùng với thuế suất phân bón 5%, giá thành sản phẩm tiếp tục chịu sức ép. Theo ông Quân, chi phí tăng khiến giá phân bón cao, tạo thêm gánh nặng cho nông dân, thậm chí có nơi người dân phải bỏ ruộng.

Điều này cho thấy một thủ tục ở khâu sản xuất, kinh doanh cuối cùng có thể tác động trực tiếp đến chi phí đầu vào của người sản xuất.

Vấn đề không phải buông lỏng quản lý chất lượng phân bón mà cần rà soát để xác định đâu là điều kiện thực sự cần thiết, đâu là thủ tục có thể đơn giản hóa, số hóa hoặc chuyển sang hậu kiểm. Đây cũng là tinh thần cải cách đang được đặt ra tại nghị trường.

Thuốc BVTV: Quản lý chặt nhưng phải theo kịp nhu cầu mới

Nếu phân bón đặt ra bài toán về thủ tục và chi phí, thuốc BVTV lại cho thấy khoảng cách giữa yêu cầu của thị trường và danh mục quản lý trong nước.

Từ giấy lưu hành phân bón đến thuốc BVTV xuất khẩu: Điểm nghẽn nhìn từ thị trường phân bón và thuốc BVTV
Bọ trĩ, là loài côn trùng nhỏ mảnh mai có cánh tua rua và ăn các côn trùng khác bằng cách chọc thủng chúng và hút phần bên trong của chúng. Tuy nhiên, khi xuất khẩu cây kiểng lá có rễ, doanh nghiệp phải giải quyết yêu cầu kiểm soát bọ trĩ (Thrips palmi Karny). - (Ảnh minh họa)

Thuốc BVTV có vai trò quan trọng trong phòng trừ sâu bệnh, bảo vệ năng suất cây trồng, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ đối với môi trường, sức khỏe con người và an toàn thực phẩm nếu sử dụng không đúng quy định. Vì vậy, việc quản lý chất lượng, khảo nghiệm, đăng ký và sử dụng thuốc là cần thiết.

Thuốc BVTV phải thuộc danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam, phù hợp với đối tượng cây trồng, sinh vật gây hại, liều lượng, thời điểm sử dụng và thời gian cách ly. Nguyên tắc “Bốn đúng” là nền tảng trong sử dụng thuốc an toàn.

Tuy nhiên, khi nông nghiệp ngày càng hướng đến xuất khẩu, doanh nghiệp còn phải đáp ứng những yêu cầu kiểm dịch thực vật riêng của từng thị trường. Câu chuyện xuất khẩu cây kiểng lá sang EU là một ví dụ.

Một doanh nghiệp đã đầu tư hệ thống nuôi cấy mô, nhà lưới, vùng trồng, quy trình quản lý dịch hại và được cấp mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu sang EU. Doanh nghiệp cũng đầu tư nghiên cứu, chọn tạo giống và đã có một giống cây được EU cấp bảo hộ quyền đối với giống cây trồng.

Tuy nhiên, khi xuất khẩu cây kiểng lá có rễ, doanh nghiệp phải giải quyết yêu cầu kiểm soát bọ trĩ (Thrips palmi Karny).

Theo quy định của EU đối với cây có rễ nhập khẩu, chứng thư kiểm dịch thực vật phải có khai báo bổ sung xác nhận đáp ứng các điều kiện kiểm soát dịch hại, trong đó có phương án áp dụng biện pháp xử lý thích hợp trước khi xuất khẩu và được cơ quan kiểm dịch kiểm tra, xác nhận.

Theo doanh nghiệp, tại một số nước thành viên EU, cơ quan kiểm dịch và đối tác không bắt buộc sử dụng một hoạt chất hoặc tên thương phẩm cụ thể. Quan trọng là nước xuất khẩu lựa chọn biện pháp xử lý phù hợp và cơ quan có thẩm quyền xác nhận lô hàng đáp ứng yêu cầu kiểm dịch.

Nhưng khi thực hiện tại Việt Nam, doanh nghiệp lại gặp điểm nghẽn. Theo danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng mà doanh nghiệp viện dẫn, hiện chưa có thuốc BVTV được đăng ký phòng trừ bọ trĩ trên cây kiểng lá.

Muốn bổ sung đối tượng sử dụng, doanh nghiệp phải khảo nghiệm, xây dựng hồ sơ và đăng ký theo quy định. Doanh nghiệp đã liên hệ và làm việc với nhiều doanh nghiệp sở hữu Giấy chứng nhận đăng ký thuốc bảo vệ thực vật, các đơn vị có chức năng thực hiện khảo nghiệm, các chuyên gia trong lĩnh vực bảo vệ thực vật cũng như các tổ chức liên quan nhằm tìm kiếm giải pháp phù hợp để xử lý bọ trĩ (Thrips palmi Karny) trên cây cây kiểng lá xuất khẩu.

Doanh nghiệp đã chủ động tìm kiếm hoạt chất, làm việc với doanh nghiệp sở hữu thuốc, đơn vị khảo nghiệm và chuyên gia. Tuy nhiên, nhiều đơn vị cho rằng cây kiểng lá có quy mô thị trường chưa lớn nên việc khảo nghiệm, đăng ký bổ sung chưa được ưu tiên. Tuy nhiên, qua quá trình trao đổi, hầu hết các đơn vị đều cho biết hiện chưa thể triển khai khảo nghiệm hoặc đăng ký bổ sung đối tượng sử dụng đối với cây kiểng lá do đây là nhóm cây trồng có quy mô thị trường còn hạn chế, chưa được ưu tiên trong kế hoạch đăng ký của các doanh nghiệp sở hữu thuốc, đồng thời việc khảo nghiệm và đăng ký bổ sung đòi hỏi thời gian, chi phí và nguồn lực rất lớn. Tuy nhiên, sau nhiều tháng triển khai, doanh nghiệp vẫn chưa thể hoàn thiện quy trình theo đúng quy định hiện hành do phát sinh những khó khăn khách quan từ thực tiễn.

Thực tế trên cho thấy, vướng mắc hiện nay không còn nằm ở sự chủ động hay nỗ lực của doanh nghiệp khi mà thị trường nhập khẩu đã mở cửa, đối tác có nhu cầu hợp tác lâu dài, doanh nghiệp đã đầu tư bài bản về nghiên cứu giống, vùng sản xuất và hệ thống quản lý chất lượng, Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ khoảng trống trong thực tiễn triển khai đối với nhóm cây kiểng lá xuất khẩu - một ngành hàng còn mới tại Việt Nam, có quy mô chưa lớn nhưng có giá trị xuất khẩu cao và đang có nhiều tiềm năng phát triển.

Điểm nghẽn vì thế không nằm ở việc doanh nghiệp không muốn tuân thủ. Doanh nghiệp đã đầu tư vùng trồng, công nghệ, giống, hệ thống quản lý dịch hại và chủ động nghiên cứu yêu cầu của thị trường nhập khẩu. Vấn đề là thị trường đã xuất hiện nhu cầu nhưng cơ chế trong nước chưa có công cụ tương ứng để doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu đó một cách hợp pháp và kịp thời.

Cảnh báo thị trường đã có, chính sách có theo kịp?

Điều đáng chú ý là các yêu cầu kỹ thuật của thị trường nhập khẩu không phải lúc nào cũng xuất hiện bất ngờ đối với cơ quan quản lý.

Từ giấy lưu hành phân bón đến thuốc BVTV xuất khẩu: Điểm nghẽn nhìn từ thị trường phân bón và thuốc BVTV
Văn phòng SPS Việt Nam là cầu nối giữa các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế trong việc bảo đảm hàng hóa nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của thị trường nhập khẩu.

Văn phòng SPS Việt Nam là đầu mối kết nối cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế trong việc đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của thị trường nhập khẩu. Thông qua cơ chế cảnh báo sớm, Văn phòng thường xuyên tổng hợp, phân tích các thông báo SPS của thành viên WTO.

Theo thông tin được cung cấp, trung bình mỗi năm có khoảng 1.000 thông báo SPS được rà soát và chuyển đến cơ quan quản lý, hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp để nghiên cứu, góp ý và chuẩn bị phương án thích ứng.

Văn phòng SPS Việt Nam cũng hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận các quy định về kiểm dịch động, thực vật, mức dư lượng tối đa, truy xuất nguồn gốc và yêu cầu chuyên ngành của EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc.

Cơ chế cảnh báo sớm giúp doanh nghiệp có thời gian điều chỉnh sản xuất, chuẩn bị hồ sơ kỹ thuật và kiểm soát chất lượng. Tuy nhiên, cảnh báo chỉ thực sự phát huy hiệu quả nếu thông tin được chuyển hóa thành hành động quản lý phù hợp.

Từ đây đặt ra câu hỏi: thông tin thị trường đã được cảnh báo, vậy tốc độ cập nhật chính sách trong nước đã theo kịp hay chưa?

Nếu doanh nghiệp biết trước yêu cầu của thị trường nhưng phải mất nhiều thời gian mới có công cụ pháp lý phù hợp để đáp ứng, cơ hội xuất khẩu vẫn có thể bị ảnh hưởng. Khoảng cách giữa cảnh báo thị trường và cập nhật chính sách vì thế cần được thu hẹp.

Cải cách không chỉ là giảm thủ tục

Hai câu chuyện phân bón và thuốc BVTV cho thấy cải cách quản lý nông nghiệp cần được nhìn rộng hơn việc cắt giảm giấy tờ.

Với phân bón, doanh nghiệp cần cơ chế kiểm soát chất lượng nhưng đồng thời phải giảm chi phí tuân thủ, rút ngắn thời gian đưa sản phẩm mới ra thị trường.

Với thuốc BVTV, Nhà nước cần kiểm soát chặt để bảo vệ sức khỏe, môi trường và an toàn thực phẩm, nhưng cũng cần cơ chế linh hoạt để xử lý nhu cầu phát sinh từ những ngành hàng mới và thị trường xuất khẩu.

Đặc biệt, khi Việt Nam đã có cơ chế cảnh báo SPS, cần tăng cường kết nối giữa thông tin cảnh báo với quá trình cập nhật chính sách chuyên ngành; đồng thời tăng phối hợp giữa Văn phòng SPS Việt Nam, cơ quan quản lý thuốc BVTV, doanh nghiệp, hiệp hội và các đơn vị khảo nghiệm.

Cải cách cũng không chỉ là chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Hậu kiểm chỉ hiệu quả khi có đủ dữ liệu, nhân lực, năng lực kiểm nghiệm, cơ chế phối hợp và trách nhiệm rõ ràng.

Thị trường không chờ chính sách. Một cơ hội xuất khẩu có thể đến trong vài tháng, trong khi một quy trình khảo nghiệm, đăng ký hoặc cập nhật danh mục có thể kéo dài lâu hơn. Nếu khoảng cách này không được thu hẹp, doanh nghiệp sẽ chịu chi phí cơ hội và nông nghiệp có thể bỏ lỡ những thị trường mới.

Từ giấy lưu hành phân bón đến thuốc BVTV phục vụ xuất khẩu, những câu chuyện khác nhau cùng đặt ra một yêu cầu: chính sách phải vừa bảo đảm an toàn, hiệu lực quản lý, vừa đủ nhanh và linh hoạt để đi cùng thực tiễn sản xuất, kinh doanh và thị trường.

Đó mới là thước đo đầy đủ của cải cách: không chỉ giảm được bao nhiêu thủ tục, mà còn phải tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận thị trường nhanh hơn, người nông dân giảm chi phí và những cơ hội mới của nông nghiệp Việt Nam được hỗ trợ kịp thời.

Hồ sơ cấp Quyết định công nhận phân bón lưu hành tại Việt Nam bao gồm:

Căn cứ theo khoản 1 Điều 13 Thông tư 07/2026/TT-BNNMT quy định hồ sơ cấp Quyết định công nhận phân bón lưu hành tại Việt Nam bao gồm:

- Đơn đề nghị cấp Quyết định công nhận phân bón lưu hành tại Việt Nam theo Mẫu số 30 Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư 07/2026/TT-BNNMT;

- Bản thông tin chung về phân bón có xác nhận của nhà sản xuất bao gồm: loại phân bón; tên phân bón; dạng phân bón; hướng dẫn sử dụng; phương thức sử dụng; thời hạn sử dụng; cảnh báo an toàn; chỉ tiêu chất lượng, hàm lượng yếu tố hạn chế trong phân bón kèm theo phiếu kết quả thử nghiệm;

- Bản chính báo cáo kết quả khảo nghiệm phân bón theo tiêu chuẩn quốc gia về khảo nghiệm phân bón (trừ các loại phân bón quy định tại khoản 2 Điều 39 Luật Trồng trọt 2018);

- Giấy chứng nhận lưu hành tự do của nước xuất khẩu cấp (đối với phân bón nhập khẩu quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 39 Luật Trồng trọt 2018).

Trường hợp hồ sơ là bản bằng tiếng nước ngoài phải có bản dịch ra tiếng Việt có xác nhận của cơ quan dịch thuật.

Trình tự, thủ tục cấp Quyết định công nhận phân bón lưu hành tại Việt Nam

Căn cứ theo khoản 2 Điều 13 Thông tư 07/2026/TT-BNNMT quy định trình tự, thủ tục cấp Quyết định công nhận phân bón lưu hành tại Việt Nam như sau:

- Tổ chức, cá nhân nộp 01 bộ hồ sơ đến Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật bằng hình thức trực tiếp hoặc qua môi trường mạng hoặc qua dịch vụ bưu chính;

- Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật trả lời ngay tính đầy đủ của hồ sơ đối với trường hợp nộp trực tiếp; trả lời bằng văn bản tính đầy đủ của hồ sơ trong 02 ngày làm việc đối với trường hợp nộp hồ sơ qua môi trường mạng hoặc qua dịch vụ bưu chính;

- Trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tổ chức thẩm định, nếu hồ sơ đáp ứng quy định thì ban hành Quyết định công nhận phân bón lưu hành tại Việt Nam (sau đây viết tắt là Quyết định công nhận) theo Mẫu số 32 Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư 07/2026/TT-BNNMT; trường hợp không cấp, trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Thời hạn của Quyết định công nhận phân bón lưu hành tại Việt Nam là 05 năm. Trước khi hết thời gian lưu hành 03 tháng, tổ chức, cá nhân có nhu cầu gia hạn phải thực hiện gia hạn theo quy định tại Điều 15 Thông tư 07/2026/TT-BNNMT.

Xem và tải: Thông tư 07/2026/TT-BNNMT tại đây

                   Phụ lục kèm theo Thông tư 07/2026/TT-BNNMT

 

Phạm Hùng