Quốc hội thảo luận sửa đổi 10 luật, thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính trong nông nghiệp và môi trường

Quốc hội ngày 12/8 thảo luận sửa đổi 10 luật nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn về thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong nông nghiệp và môi trường. Các đại biểu đề nghị cải cách phải thực chất, giảm chi phí tuân thủ và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, người dân.
Quốc hội thảo luận sửa đổi 10 luật, thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính trong nông nghiệp và môi trường
Toàn cảnh phiên thảo luân sửa đổi 10 luật nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn về thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong nông nghiệp và môi trường. - (Ảnh: quochoi)

Tiếp tục Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên điều hành phiên thảo luận.

Quốc hội thảo luận sửa đổi 10 luật, thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính trong nông nghiệp và môi trường
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn chủ trì, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên điều hành phiên thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. - (Ảnh: quochoi)

Có 25 đại biểu phát biểu tại phiên họp, tập trung vào những quy định đang tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Qua thảo luận, các đại biểu cơ bản đồng tình với định hướng cải cách của dự thảo, nhất là việc cắt giảm thủ tục hành chính, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm.

Điểm đáng chú ý là cải cách được đặt trong yêu cầu bảo đảm hiệu lực quản lý. Nhiều ý kiến cho rằng, giảm thủ tục không đồng nghĩa với giảm trách nhiệm quản lý; phân cấp không thể chỉ dừng ở việc chuyển thẩm quyền mà phải đi cùng con người, nguồn lực, dữ liệu và cơ chế giám sát phù hợp.

Gỡ điểm nghẽn từ chăn nuôi, thú y đến trồng trọt, thủy sản

Trong lĩnh vực chăn nuôi, các đại biểu tập trung góp ý về giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi đối với trang trại quy mô lớn; việc cấp, cấp lại, thu hồi giấy chứng nhận; trao đổi quốc tế nguồn gen giống vật nuôi; nhập khẩu giống vật nuôi và sản phẩm giống vật nuôi; công bố, thay đổi thông tin sản phẩm thức ăn chăn nuôi.

Quốc hội thảo luận sửa đổi 10 luật, thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính trong nông nghiệp và môi trường
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng tại phiên thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. - (Ảnh: quochoi)

Đây đều là những nội dung có liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu tư, sản xuất của doanh nghiệp và người chăn nuôi. Việc rà soát thủ tục theo hướng rõ ràng, minh bạch, giảm những yêu cầu không cần thiết được kỳ vọng góp phần giảm thời gian và chi phí tuân thủ.

Đối với lĩnh vực thú y, nội dung thảo luận tập trung vào kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật trên cạn xuất khẩu, nhập khẩu; cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất thuốc thú y; phân cấp, phân quyền cho địa phương; nhiệm vụ của cán bộ thú y cấp xã và chuẩn hóa năng lực chuyên môn tại cơ sở.

Một vấn đề được quan tâm là cơ chế công nhận kết quả thử nghiệm của các phòng thử nghiệm đã được chỉ định hoặc được công nhận. Nếu được thiết kế hợp lý, cơ chế này có thể hạn chế việc thực hiện lại những đánh giá, thử nghiệm đã có, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý dựa trên kết quả và tiêu chuẩn chuyên môn.

Với lĩnh vực thủy sản, các đại biểu đề nghị vẫn phải duy trì những yêu cầu cần thiết về an toàn sinh học sau khi bãi bỏ toàn bộ điều kiện đối với cơ sở khảo nghiệm giống thủy sản. Cùng với đó là cắt giảm thủ tục trong thu hồi giấy phép, tăng cường quản lý bằng tiêu chuẩn, quy chuẩn và hậu kiểm đối với các cơ sở mua bán, nhập khẩu thức ăn thủy sản.

Các ý kiến cũng đặt yêu cầu phải rà soát kỹ để không tạo khoảng trống pháp lý trong kiểm soát chất lượng, an toàn đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản; kiểm soát chất lượng, an toàn kỹ thuật tàu cá khi xuất xưởng và làm rõ nguyên tắc quản lý hoạt động khảo nghiệm.

Ở lĩnh vực trồng trọt, trọng tâm thảo luận là cơ chế tự công bố lưu hành giống cây trồng; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân buôn bán phân bón; các hành vi bị nghiêm cấm. Một số đại biểu đề nghị cân nhắc việc bãi bỏ điều kiện đối với tổ chức, cá nhân sản xuất, buôn bán giống cây trồng cũng như điều kiện buôn bán phân bón.

Đây là những nội dung có ý nghĩa thiết thực đối với thị trường vật tư nông nghiệp. Cắt giảm điều kiện kinh doanh cần hướng tới tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, nhưng đồng thời phải bảo đảm chất lượng đầu vào, quyền lợi của người sản xuất và an toàn của sản phẩm nông nghiệp.

Đối với Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật, các đại biểu tập trung vào cơ chế rà soát, đánh giá lại hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật đã được cấp phép lưu hành; thẩm quyền giải quyết thủ tục kiểm tra nhà nước về chất lượng thuốc bảo vệ thực vật nhập khẩu; bãi bỏ thời hạn Giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán thuốc bảo vệ thực vật.

Các nội dung liên quan đến xuất khẩu, nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật, trách nhiệm hướng dẫn thu gom, xử lý bao gói thuốc sau sử dụng và quản lý những loại thuốc không được đăng ký hoặc bị loại khỏi danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam cũng được đặt ra.

Như vậy, tinh thần chung của các ý kiến là giảm những thủ tục có thể đơn giản hóa nhưng không buông lỏng các khâu có liên quan trực tiếp đến chất lượng vật tư nông nghiệp, an toàn sản xuất và bảo vệ môi trường.

Cải cách phải gắn với trách nhiệm và dữ liệu dùng chung

Một trong những nội dung xuyên suốt phiên thảo luận là yêu cầu phân cấp, phân quyền phải thực chất. Đại biểu Nguyễn Đình Xuân (đoàn ĐBQH Tây Ninh) cho rằng, khi đã phân cấp thì phải gắn với trách nhiệm của cơ quan được giao quyền.

Theo đại biểu, địa phương được giao thẩm quyền cần chủ động giải quyết công việc, không để hồ sơ cuối cùng vẫn phải quay lại xin ý kiến cấp trên. Cùng với phân cấp, cần ứng dụng công nghệ thông tin để các cơ quan có thể giám sát lẫn nhau, hạn chế tình trạng hồ sơ kéo dài.

Từ góc độ dữ liệu, đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú (đoàn ĐBQH Nghệ An) đề nghị xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung theo nguyên tắc “một lần cung cấp thông tin, nhiều cơ quan cùng sử dụng”. Khi dữ liệu đã được Nhà nước quản lý, doanh nghiệp không nên phải tiếp tục kê khai, cung cấp lại trong những thủ tục khác.

Đây là yêu cầu có ý nghĩa đặc biệt trong cải cách hành chính hiện nay. Bởi nếu chỉ cắt giảm một vài loại giấy tờ nhưng doanh nghiệp vẫn phải đi lại nhiều lần, cung cấp cùng một thông tin cho nhiều cơ quan khác nhau thì chi phí tuân thủ thực tế chưa chắc đã giảm.

Đại biểu Trịnh Xuân An (đoàn Đồng Nai) đề nghị kế thừa những kết quả đánh giá đã có, không buộc doanh nghiệp thực hiện lại những thủ tục tương tự. Theo đại biểu, những gì thị trường có thể làm được thì để thị trường làm; Nhà nước tập trung vào xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn và năng lực giám sát.

Cách tiếp cận này cho thấy sự thay đổi trong tư duy quản lý: từ việc Nhà nước kiểm soát quá sâu vào từng khâu sang xây dựng khung pháp lý, tiêu chuẩn, quy chuẩn và giám sát việc tuân thủ.

Tuy nhiên, quá trình chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với năng lực quản lý nhà nước.

Đại biểu Phạm Văn Hòa (đoàn Đồng Tháp) lưu ý, cắt giảm thủ tục không chỉ được tính bằng số lượng thủ tục được bỏ mà còn phải tính đến những rủi ro có thể phát sinh. Phân cấp cũng phải đi cùng con người, phương tiện và điều kiện thực hiện. Nếu không bảo đảm các yếu tố này, việc phân cấp khó đạt hiệu quả.

Đây cũng là vấn đề cần được đặc biệt quan tâm trong những lĩnh vực có nguy cơ tác động lớn đến sức khỏe cộng đồng, môi trường và an toàn sản xuất như thú y, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi, thủy sản hay quản lý tài nguyên nước.

Không để cải cách tạo khoảng trống quản lý

Đối với lĩnh vực địa chất và khoáng sản, các đại biểu đề cập nhiều vấn đề từ bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân, doanh nghiệp đến điều chỉnh, gia hạn, thu hồi giấy phép thăm dò, khai thác khoáng sản; thẩm định, phê duyệt đề án đóng cửa mỏ; chấp thuận phương án đóng cửa mỏ và phục hồi môi trường.

Các nội dung về công nhận kết quả thăm dò khoáng sản, thẩm quyền quản lý khoáng sản tại khu vực biển chưa phân định rõ ranh giới hành chính, đánh giá mức độ ảnh hưởng đến khoáng sản thuộc đối tượng dự trữ quốc gia và cơ chế phối hợp giải quyết thủ tục đối với khu vực khoáng sản nằm trên địa bàn từ hai tỉnh trở lên cũng được đặt ra.

Một số đại biểu đồng thời đề nghị tiếp tục rà soát các quy định chuyển tiếp, nhất là trong trường hợp quy định của luật chưa thống nhất với Nghị quyết số 66.19/2026/NQ-CP về cắt giảm, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Trong lĩnh vực tài nguyên nước, các đại biểu tập trung vào điều chuyển nước, điều chỉnh quy trình vận hành liên hồ chứa và việc bãi bỏ cơ chế chấp thuận phương án chuyển nước lưu vực sông.

Đây là những vấn đề đòi hỏi sự cân bằng giữa yêu cầu đơn giản hóa thủ tục với bảo đảm an toàn nguồn nước, an toàn hồ đập và lợi ích của các địa phương, tổ chức, cộng đồng dân cư liên quan.

Với lĩnh vực khí tượng thủy văn, đại biểu đề nghị phân biệt rõ hoạt động thực hiện theo kế hoạch với hoạt động phải triển khai trong tình huống khẩn cấp; đồng thời quy định các yêu cầu và cơ chế kiểm soát cơ bản ngay trong luật.

Đại biểu Trần Mạnh Huy (đoàn Đà Nẵng) nhấn mạnh yêu cầu rút ngắn thời gian ra quyết định trong vận hành hồ chứa, đồng thời tăng cường kết nối giữa hệ thống khí tượng, thủy văn và phòng chống thiên tai. Theo đại biểu, thông tin về xả nước phải đến với người dân đúng, sớm, đủ, tin cậy và rõ ràng để có thể hành động.

Những ý kiến này cho thấy cải cách thủ tục trong lĩnh vực môi trường và tài nguyên không chỉ là câu chuyện giảm giấy tờ. Quan trọng hơn là xây dựng cơ chế ra quyết định nhanh, chính xác, minh bạch và có khả năng ứng phó với các tình huống phát sinh.

Chỉ sửa thủ tục, điều kiện kinh doanh trong bước cải cách trước mắt

Kết thúc phiên thảo luận, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu.

Bộ trưởng cho biết cơ quan soạn thảo đã có Báo cáo số 9093/BC-BNNMT ngày 11/8/2026 gửi các đại biểu Quốc hội về tiếp thu, giải trình bước đầu ý kiến của cơ quan thẩm tra và các đại biểu Quốc hội.

Về đề nghị mở rộng phạm vi điều chỉnh, sửa đổi thêm một số nội dung ngoài phạm vi Nghị quyết số 66.19/2026/NQ-CP, Bộ trưởng cho biết Kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu dự án luật tập trung luật hóa Nghị quyết số 66.19/2026/NQ-CP và chỉ sửa đổi, bổ sung các nội dung về thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, không phát sinh chính sách mới.

Theo Bộ trưởng, việc mở rộng, bổ sung chính sách mới sẽ không bảo đảm tính chất của dự án luật sửa đổi, bổ sung nhiều luật theo Kết luận số 09-KL/TW của Bộ Chính trị và không phù hợp với Nghị quyết số 206/2025/QH15 của Quốc hội.

Những ý kiến đại biểu về chính sách mới sẽ được cơ quan soạn thảo ghi nhận để tổng kết thực tiễn, đánh giá tác động và đề xuất xử lý khi sửa đổi toàn diện các luật trong thời gian tới.

Định hướng này cho thấy dự án luật lần này được xác định là một bước cải cách trước mắt, tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh, thay vì đồng thời giải quyết toàn bộ những vấn đề chính sách lớn của từng ngành.

Hướng tới một hệ thống pháp luật thông thoáng hơn

Theo Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng, năm 2027, Chính phủ sẽ trình Quốc hội 7 dự án luật gồm: Luật Địa chất và Khoáng sản; Luật Chăn nuôi và Thú y; Luật Trồng trọt và Bảo vệ thực vật; Luật Thủy sản; Luật Khí tượng thủy văn; Luật Đê điều; Luật Phòng, chống thiên tai.

Đây sẽ là bước tiếp theo trong quá trình tổng kết thực tiễn, đánh giá tác động và sửa đổi toàn diện hơn hệ thống pháp luật trong lĩnh vực nông nghiệp, tài nguyên và môi trường.

Từ phiên thảo luận ngày 12/8, có thể thấy yêu cầu cải cách đang được đặt ra ở một cấp độ cao hơn: không chỉ giảm thủ tục mà phải thay đổi phương thức quản lý; không chỉ phân cấp mà phải xác định rõ trách nhiệm; không chỉ chuyển sang hậu kiểm mà phải bảo đảm đủ năng lực kiểm soát rủi ro.

Đối với cộng đồng doanh nghiệp, hợp tác xã, người sản xuất và các chủ thể hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, hiệu quả của cải cách cuối cùng sẽ được đo bằng những thay đổi cụ thể: thời gian thực hiện thủ tục có giảm hay không, chi phí tuân thủ có giảm hay không, việc tiếp cận cơ quan quản lý có thuận lợi hơn hay không và những quy định mới có tạo ra môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng hơn hay không.

Còn đối với cơ quan quản lý, giảm thủ tục đồng nghĩa với yêu cầu cao hơn về chất lượng xây dựng chính sách, năng lực chuyên môn, dữ liệu và hậu kiểm.

Khi những yếu tố đó được kết nối đồng bộ, cải cách thủ tục hành chính không chỉ giúp giảm gánh nặng cho người dân, doanh nghiệp mà còn tạo nền tảng cho một phương thức quản lý hiện đại, minh bạch và hiệu quả hơn, góp phần mở rộng không gian phát triển cho nông nghiệp và tăng cường hiệu quả quản lý tài nguyên, môi trường.

Phạm Hùng