Nuôi cá lồng trên dòng sông Sêrêpốk

Việc nuôi cá lồng ở hồ thủy điện Buôn Tua Srah (xã Nam Ka, tỉnh Đắk Lắk) được các hộ dân nơi đây phát triển mạnh nhưng khó khăn về sinh hoạt hàng ngày.

Việc nuôi cá lồng ở hồ thủy điện Buôn Tua Srah (xã Nam Ka, tỉnh Đắk Lắk) được các hộ dân nơi đây triển khai từ nhiều năm qua và mang lại hiệu quả cao. Tuy nhiên nhiều gian nan với bài toán "lên bờ" và câu chuyện sống đời du mục.

Đánh thức tiềm năng kinh tế thủy sản

Tận dụng tiềm năng lớn về diện tích mặt nước hồ chứa phục vụ thủy điện và sản xuất nông nghiệp, nghề nuôi cá lồng trên hồ thủy điện Buôn Tour Sah, một nhánh của dòng sông Sêrêpốk những năm trở lại đây đã mang lại nhiều lợi ích, tạo ra nhiều việc làm và tăng thu nhập cho nhiều nông dân nơi đây.

Với diện tích mặt nước gần 40.000 m2 trong và sạch, hồ chứa nước thủy điện Buôn Tua Srah là hồ chứa lớn tại tỉnh Đắk Lắk. Nắm bắt được những thuận lợi này, từ năm 2015 những người dân miền Tây sông nước đã lên đây khởi nghiệp bằng nghề nuôi cá lồng trên sông. Anh Hoàng Văn Cường, người dân Tiền Giang (cũ) lên đây nuôi cá lồng đã hoàn thành 6 bè nuôi cá với nhiều loại cá đa dạng mang lại giá trị kinh tế cao như cá chép, cá bống, cá cơm, cá trắm đen, trắm cỏ, cá diêu hồng, cá rô phi.

Gia đình anh Phạm Việt (Tiền Giang cũ) gắn bó với công việc nuôi cá lồng trên thủy điện Buon Ta Srah hơn 10 năm.
Gia đình anh Phạm Việt (Tiền Giang cũ) gắn bó với công việc nuôi cá lồng trên thủy điện Buôn Tua Srah hơn 10 năm nay.

Anh Phạm Việt, cũng là người Tiền Giang cho biết: “Hồ thủy điện Buôn Tua Srah có nguồn nước xanh và sạch, đó là điều kiện đầu tiên gia đình tôi đầu tư vào việc nuôi cá lồng. Cùng với đó là nguồn cá tép tự nhiên rất lớn, tạo nguồn thức ăn phong phú cho cá. Con cá ở đây được nuôi và cho ăn theo hình thức bán công nghiệp, chính vì vậy cá rất ít dịch bệnh". Theo anh Việt, dòng nước trên hồ thủy điện Buôn Tua Srah luôn lưu thông nhờ đó cá sinh trưởng rất tốt. Hơn nữa khi nuôi cá ở đây thì các loài phù du và các loài cá nhỏ có sẵn trong lòng hồ sẽ cung cấp cho cá nuôi nguồn thức ăn giàu đạm và bỗ dưỡng”.

Anh Việt cho biết thêm: Kết hợp giữa cho ăn thức ăn công nghiệp và bán công nghiệp, sau khi cá trưởng thành có sức đề kháng tốt sẽ chuyển dần sang các thức ăn hiện tại trên dòng sông có sẵn.

Nhằm mục đích nâng cao thương hiệu cá lồng Nam Ka, tạo điều kiện nâng cao thu nhập cho người dân trước khi đưa ra thị trường tiêu thụ, các sản phẩm đều được kiểm nghiệm để đảm bảo tính an toàn và chất lượng đến tay người tiêu dùng.

Nuôi cá lồng trên dòng sông Sêrêpốk
Những ngôi nhà "di động" lênh đênh trên sông nước Buôn Tua Srah hết năm này qua năm khác.

Trên hồ thủy điện Buôn Tua Srah hiện có khoảng trên 200 lồng cá được chăm sóc bảo vệ ngày đêm, phần lớn là cá tầm, giống cá nước lạnh. Để giống cá này thích ứng với môi trường sống ở đây, người nuôi đã trải qua một quá trình lai tạo giống cũng như chăm sóc, nuôi dưỡng thật cẩn thận, kỹ lưỡng.

Tùy vào thời gian sinh trưởng của cá tầm mà người nuôi có từng loại thực phẩm, cũng như thời gian cho cá ăn khác nhau. Cá tầm nhỏ thì một ngày cho ăn nhiều lần, kích thước của thức ăn cũng nhỏ hơn; với cá trưởng thành thì số lần cho ăn ít hơn nhưng kích thước của thức ăn lớn hơn. Thức ăn cho cá phải bảo đảm là thức ăn hữu cơ, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng. Việc chăm cá tầm đòi hỏi sự cẩn thận cũng như trình tự chăm sóc đúng khoa học kỹ thuật.

Chị Lê Thị Tuyến cho biết: Nhà chị có 4 bè cá, tùy thuộc vào mỗi loại giống cá, có thể từ 6 tháng đến 1 năm là có thu hoạch; lợi nhuận trung bình hơn 100 triệu đồng/năm. Cũng theo chị Tuyến, nuôi cá lồng bè trên sông có ưu điểm không phải tốn chi phí đào ao, nguồn nước ít bị ô nhiễm... thuận lợi cho cá sinh trưởng. Gia đình chị chọn cá trắm và diêu hồng bởi những loại cá này dễ nuôi, nguồn thức ăn đa dạng, thị trường ưa chuộng.

Chị Lê Thị Tuyền cho biết, nhà chị có 4 bè cá, việc nuôi cá lồng cũng giúp gia đình trang trai cuocj sống nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Căn nhà của chị Lê Thị Tuyến

Theo tìm hiểu của chúng tôi, nhiều người nuôi cá trên sông Sêrêpốk ngần ngại mở rộng diện tích nuôi vì thiếu kỹ thuật chăm sóc, nhất là khâu xử lý bệnh của cá. Theo đó, bệnh thường gặp nhất ở cá là nấm ngoài da, rất dễ lây lan trên diện rộng. Do chưa có nhiều kinh nghiệm nên người nuôi không phát hiện được những dấu hiệu ban đầu. Kể cả khi phát hiện cá bị bệnh nhưng không có sự tư vấn, hỗ trợ kỹ thuật nhanh chóng tại chỗ để điều trị kịp thời thì vẫn thiệt hại rất lớn.

Sống đời du mục và ước mơ vào bờ

Trên con nước này có khoảng hơn 50 chiếc thuyền, là hơn 50 hộ dân sống bám víu vào nhau để qua ngày. Đây là một xóm chài nhỏ bé được thành lập vào năm 2010, khi một vài người dân các tỉnh miền Tây tìm đến con suối Đắk Hil thuộc địa bàn 2 xã Nam Ka và Krông Nô (huyện Lắk, Đắk Lắk cũ) và rồi khi thủy điện Buôn Tua Srah xây dựng trên địa phận xã Nam Ka, quá trình tích nước hồ chứa đã làm nước dâng lên, con suối Dak Hil vì thế mà như rộng thêm, lượng nước dồi dào khiến nơi đây tập trung nguồn cá rất lớn, từ đó xuất hiện “làng chài” này.

Hơn 50 hộ gia đình
Hơn 50 hộ gia đình sinh sống trên mặt hồ thủy điện Buôn Tua Srah dọc 2 bên cầu Đắk Hil, nối 2 tỉnh Đắk Lắk - Lâm Đồng.

Hơn 50 hộ dân sống lênh đênh trên những phao cứu sinh, thùng phuy hoặc các loại cây tre, nứa kết lại thành bè. Đã hơn 10 năm trôi qua, những hộ này sinh sống trên ngôi nhà "di động”. Mỗi khi nước lên, nước xuống, ngôi nhà lại lên rồi lại xuống theo. Những tháng có lũ, lụt, ngôi nhà cứ chông chênh trên hàng ngàn đợt sóng vỗ. Anh Mai Công Phụng cho biết: Năm 2015 anh và gia đình lên đánh bắt cá rồi nuôi cá lồng trên sông. Con cái còn nhỏ gửi lại ông, bà chăm sóc ăn học. Có những gia đình sinh con ở đây và gắn bó cùng sông nước. Mong muốn lớn nhất của anh là được ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế và con cái ăn học gần gia đình.

Còn chị Lê Thị Hạnh thì cho biết: Nỗi lo sợ nhất là mỗi khi mùa mưa bão, nhà cứ lênh đênh, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Những hộ dân sống trên các "làng chài" nổi, mưu sinh phụ thuộc hoàn toàn vào lòng hồ thủy điện. Ước mơ lớn nhất là được cấp đất, xây nhà kiên cố trên bờ để ổn định cuộc sống.

Tại lòng hồ thủy điện Buôn Tua Srah, cuộc sống trên nước thiếu thốn điện, nước sạch, việc đi lại đều bằng thuyền. Khi màn đêm buông xuống, cả làng chài dần chìm vào bóng tối. Những ngọn đèn leo lắt chỉ sáng lên nhờ bình ắc quy, nhưng cũng chỉ sáng một lúc rồi tắt để dành điện cho những đêm sau.

Nuôi cá lồng trên dòng sông Sêrêpốk
Khi hoàng hôn buông xuống, những người đàn ông bắt đầu "hành trình" đêm không ngủ thả lưới trên mặt hồ.

Đi qua cầu Đắk Hil dễ dàng nhìn thấy những chiếc bè cũ kỹ nằm ngang dọc dưới chân cầu. Ở đó, có những con người đang gắn cuộc sống của mình với con thuyền, bến nước tìm kế mưu sinh hằng ngày. Chiều ngang qua hồ Nam Ka, nơi mấy chục con người trú ngụ trên sông, không gian vô cùng tĩnh lặng, thi thoảng chỉ nghe những tiếng rì rầm, bất chợt lao xao trên mặt sông càng làm cho khung cảnh xóm chài thêm lặng lẽ.

Cả nhà mưu sinh trên những lồng bè
Cả gia đình mưu sinh trên những lồng bè.

Không mảnh đất cắm dùi, họ đóng thuyền, dựng nhà ngay trên mặt nước, mỗi nhà rộng chừng 15-20 m2. Sàn nhà là 9-10 thùng phuy nhựa bịt kín, buộc chặt vào nhau (để nhà luôn luôn nổi khi nước lên nước xuống) rồi đóng neo cố định một chỗ. Nhà lợp bằng tôn, xung quanh được phủ kín bằng bạt ni lông hoặc ván gỗ.

Điều mà cư dân xóm chài phải chấp nhận lâu nay đó là mọi sinh hoạt như tắm rửa, vệ sinh, giặt giũ, nuôi gia súc, gia cầm... đều diễn ra trên con nước này. Thậm chí chỉ cần múc nước lên và để cho lắng là có thể sử dụng làm nước ăn, uống. Cuộc sống du mục lênh đênh trên sông nước, sự vất vả mưu sinh đã khiến họ chẳng mấy quan tâm đến việc gì khác ngoài chuyện kiếm sống qua ngày.

Ông Y Hoàng Niê, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Nam Ka, tỉnh Đắk Lắk cho biết: Hiện tại những hộ dân chài trên thủy điện Buôn Tua Srah đều đăng ký tạm trú. Vì vậy cũng hạn chế nhiều quyền lợi của người dân đánh bắt cá trên sông. Những năm qua, UBND xã cũng tạo điều kiện cho người dân ở làng chài về việc tạm trú, cấp giấy khai sinh cho trẻ em, được tham gia các hoạt động y tế, giáo dục của địa phương. Còn về đất tái định cư cho người dân làng chài cần phải đợi chủ trương, quy hoạch của cấp có thẩm quyền.

Dưới thuyền bán cá tươi, trên bờ bán cá khô

Những sạp bán cá khô xuất hiện ngày càng nhiều hai bên cầu Đắk
Những sạp bán cá khô xuất hiện ngày càng nhiều hai bên cầu Đắk Hil.

Cứ tầm 4-5h chiều là dân chài bắt đầu ra lòng hồ thả lưới, hôm sau trời chưa sáng lại gom lưới để kịp bán cá cho thương lái đưa đi chợ xa. Cứ thế vòng tuần hoàn khép lại khi trời sáng rồi mở ra lúc hoàng hôn như điệp khúc giữa lênh đênh sông nước. Dưới bờ các thương lái thu mua cá tươi các loại, những con cá thương lái không thu mua hoặc thu mua không hết được các hộ dân phơi khô. Từ đó hình thành nên các sạp bán cá khô ven đường.

Nuôi cá lồng trên dòng sông Sêrêpốk
Cá lóc phơi khô
Những rổ cá cơm

Những rổ cá cơm

Trở thành thói quen, mỗi lúc có xe dừng lại là vang lên tiếng gọi mời của những người bán cá khô - hầu hết là phụ nữ và trẻ em, còn nam giới thì xuống hồ đánh bắt cá.

Những sạp cá khô hai bên đầu cầu Đắk
Những sạp cá khô hai bên đầu cầu Đắk Hil hầu hết do phụ nữ và trẻ em ngồi bán.

Tại đây, có hàng chục sạp hàng khô cá đủ các loại. Hai đầu cầu Đắk Hil là những chòi tạm bán cá khô các loại như cá trắm, cá bống, cá lóc, cá cơm, cá rô phi… Treo trên mép mái tôn là những con cá khô lóc xẻ dọc đã bóc hết xương, dải thịt cá ươm mỡ óng ánh. Phía dưới sạp là rổ cá khô nhỏ như cá mương, cá lìm kìm... Con đường đi qua đây là QL 27; người xuôi sang Lâm Đồng, người ngược lên Buôn Ma Thuột cũng đông đúc và thấy cảnh chốn này rất đẹp nên thường dừng chân chụp ảnh. Người dân mang cá lên đây bán cũng là một cách để tiêu thụ hàng và người đi đường cũng có thức quà mang về.

Xem thêm nội dung về Sinh vật cảnh qua các kênh của Tạp chí Việt Nam hương sắc

Tiktok: https://tiktok.com/@tapchivietnamhuongsac

Facebook: https://facebook.com/tapchivietnamhuongsac.vn

Youtube: https://youtube.com/@tapchivietnamhuongsac68

-->
Bài và ảnh: Lưu Tấn Văn