Ngày 01/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 268/2026/NĐ-CP về Khuyến nông, có hiệu lực thi hành từ ngày 20/8/2026, thay thế Nghị định số 83/2018/NĐ-CP. Việc ban hành Nghị định mới không chỉ hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động khuyến nông mà còn tạo nền tảng quan trọng để đẩy mạnh chuyển giao khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào sản xuất nông nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển nền nông nghiệp hiện đại, xanh, hiệu quả và bền vững trong giai đoạn mới.
![]() |
| Chính phủ ban hành Nghị định số 268/2026/NĐ-CP về Khuyến nông, có hiệu lực thi hành từ ngày 20/8/2026, thay thế Nghị định số 83/2018/NĐ-CP. - (Ảnh minh họa) |
Trong bối cảnh ngành nông nghiệp đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao giá trị gia tăng, thích ứng với biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế sâu rộng, vai trò của hoạt động khuyến nông ngày càng được khẳng định. Khuyến nông không còn đơn thuần là hướng dẫn kỹ thuật sản xuất mà trở thành cầu nối giữa các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, chuyên gia với người nông dân; là kênh đưa nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, quy trình sản xuất tiên tiến và mô hình hiệu quả vào thực tiễn.
Nghị định số 268/2026/NĐ-CP được xây dựng theo hướng đồng bộ, toàn diện, quy định rõ hình thức, phương thức, đối tượng và chính sách về khuyến nông, đồng thời cụ thể hóa quy định của Luật Chuyển giao công nghệ đối với lĩnh vực nông nghiệp. Một trong những điểm nổi bật của Nghị định là hệ thống chính sách hỗ trợ được thiết kế xuyên suốt từ đào tạo nguồn nhân lực, truyền thông, xây dựng và nhân rộng mô hình đến xã hội hóa hoạt động khuyến nông, góp phần tạo động lực mới cho quá trình chuyển đổi sản xuất.
Đào tạo, tập huấn và bồi dưỡng nguồn nhân lực được xác định là nền tảng nâng cao chất lượng hoạt động khuyến nông. Theo quy định mới, người tham gia các khóa đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng được hỗ trợ tối đa 100% chi phí tài liệu, tiền ăn, đi lại và nơi ở. Đây là chính sách có ý nghĩa thiết thực, tạo điều kiện để nông dân, hợp tác xã, cán bộ cơ sở và các lực lượng trực tiếp sản xuất tiếp cận kiến thức mới mà không bị rào cản về chi phí.
Không chỉ hỗ trợ người học, Nghị định còn quy định người tham gia giảng dạy, trợ giảng, hướng dẫn thực hành, tham quan và tổ chức lớp học được hưởng đầy đủ các chế độ hỗ trợ theo quy định. Đặc biệt, Chính phủ khuyến khích sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, nghệ nhân và nông dân sản xuất giỏi vào công tác đào tạo, tập huấn. Đây là cách tiếp cận mang tính thực tiễn cao, kết hợp giữa tri thức khoa học và kinh nghiệm sản xuất, giúp người học dễ tiếp thu, dễ áp dụng và nâng cao hiệu quả chuyển giao công nghệ.
Bên cạnh đó, Nghị định cũng dành sự ưu tiên đối với đội ngũ cán bộ khuyến nông cơ sở, lực lượng khuyến nông cộng đồng, phụ nữ và đồng bào dân tộc thiểu số. Việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực ngay từ cơ sở được kỳ vọng sẽ tạo nên mạng lưới khuyến nông vững mạnh, đủ năng lực đồng hành cùng người dân trong quá trình chuyển đổi sản xuất.
Một điểm mới đáng chú ý khác là việc tăng cường đầu tư cho công tác thông tin, truyền thông khuyến nông. Theo Nghị định, ngân sách nhà nước hỗ trợ tối đa 100% kinh phí thực hiện các hoạt động truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng; xuất bản bản tin, tài liệu, ấn phẩm chuyên ngành; tổ chức hội nghị, hội thảo, hội thi, hội chợ, triển lãm, diễn đàn, tọa đàm và các hoạt động tư vấn, dịch vụ khuyến nông.
Đặc biệt, Nghị định mở rộng phạm vi hỗ trợ đối với việc xây dựng, quản lý và kết nối cơ sở dữ liệu khuyến nông, cổng thông tin điện tử, nền tảng số, mạng xã hội và các ứng dụng công nghệ số phục vụ phổ biến kiến thức, chia sẻ kinh nghiệm sản xuất. Đây là bước tiến quan trọng trong quá trình chuyển đổi số ngành nông nghiệp, giúp người sản xuất có thể tiếp cận thông tin nhanh chóng, chính xác và thuận tiện hơn.
Song song với đó, người tham gia các sự kiện khuyến nông cũng được hỗ trợ chi phí tài liệu, đi lại, tiền ăn và nơi ở. Chính sách này góp phần khuyến khích đông đảo nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp tham gia các diễn đàn trao đổi kinh nghiệm, kết nối thị trường và cập nhật tiến bộ kỹ thuật.
Đối với hoạt động xây dựng mô hình, Nghị định quy định nhiều cơ chế hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm. Những mô hình triển khai tại địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, vùng biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi hoặc khu vực chịu ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh được hỗ trợ tối đa 100% tổng chi phí xây dựng mô hình. Đây là chính sách có ý nghĩa nhân văn, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, đồng thời tạo điều kiện để người dân ở khu vực khó khăn tiếp cận các mô hình sản xuất tiên tiến.
Đối với các địa bàn còn lại, mức hỗ trợ tối đa là 50% tổng chi phí xây dựng mô hình. Ngoài nguồn kinh phí trực tiếp, Nhà nước còn hỗ trợ 100% chi phí triển khai mô hình; hỗ trợ tư vấn, đào tạo để được cấp chứng nhận tiêu chuẩn chất lượng, an toàn thực phẩm, an toàn dịch bệnh, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và chỉ dẫn địa lý. Đồng thời, kinh phí tập huấn và chỉ đạo kỹ thuật trong quá trình triển khai cũng được hỗ trợ tối đa.
Những chính sách này không chỉ khuyến khích người dân mạnh dạn áp dụng kỹ thuật mới mà còn giúp các mô hình đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu, nhất là trong bối cảnh truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng và phát triển nông nghiệp xanh đang trở thành xu hướng tất yếu.
Sau khi hình thành các mô hình hiệu quả, việc nhân rộng sẽ quyết định mức độ lan tỏa của tiến bộ kỹ thuật. Vì vậy, Nghị định dành nhiều cơ chế hỗ trợ cho giai đoạn này. Nhà nước hỗ trợ tối đa 100% kinh phí truyền thông, tổ chức hội nghị, hội thảo, tham quan học tập và phổ biến mô hình; đồng thời hỗ trợ chi phí giống, thiết bị và vật tư thiết yếu với mức tối đa bằng 60% chi phí xây dựng mô hình.
Đáng chú ý, các hộ nông dân tham gia nhân rộng mô hình gắn với liên kết chuỗi giá trị còn được hưởng thêm các chính sách hỗ trợ phát triển chuỗi liên kết theo quy định hiện hành. Đây là giải pháp quan trọng nhằm đưa hoạt động khuyến nông gắn với phát triển sản xuất hàng hóa, nâng cao giá trị gia tăng và xây dựng vùng nguyên liệu ổn định.
Một nội dung có ý nghĩa chiến lược trong Nghị định là đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động khuyến nông và chuyển giao công nghệ. Bên cạnh nguồn lực từ ngân sách nhà nước, Chính phủ khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã, viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức khoa học, nghệ nhân và các cá nhân tham gia đầu tư, hỗ trợ và đồng hành cùng hoạt động khuyến nông.
Các tổ chức, cá nhân tham gia xã hội hóa được hưởng nhiều chính sách ưu đãi như được vinh danh, quảng bá sản phẩm tại các sự kiện khuyến nông; được cơ quan quản lý nhà nước hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình triển khai hoạt động; được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế, lệ phí, vay vốn, thuê đất và các ưu đãi khác theo quy định của pháp luật. Đây là cơ sở để huy động thêm nguồn lực xã hội, mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng các chương trình khuyến nông trên phạm vi cả nước.
Song song với các chính sách khuyến khích, Nghị định cũng quy định rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân khi tham gia chuyển giao công nghệ. Theo đó, mọi tiến bộ kỹ thuật, công nghệ khi chuyển giao phải được hướng dẫn đầy đủ về tính năng, tác dụng và quy trình áp dụng; đồng thời đơn vị chuyển giao phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, bồi thường thiệt hại nếu việc chuyển giao hoặc ứng dụng công nghệ gây ra hậu quả, trừ trường hợp bất khả kháng theo quy định.
Quy định này góp phần nâng cao tính minh bạch, bảo đảm chất lượng hoạt động chuyển giao công nghệ, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sản xuất, hạn chế tình trạng cung cấp thông tin thiếu chính xác hoặc chuyển giao các giải pháp chưa được kiểm chứng.
Để bảo đảm các chính sách được triển khai hiệu quả, Nghị định giao trách nhiệm cho cơ quan quản lý nhà nước về khuyến nông tại địa phương trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động khuyến nông và chuyển giao công nghệ trên địa bàn. Việc tăng cường công tác quản lý sẽ góp phần sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư, bảo đảm chính sách đến đúng đối tượng, đúng mục tiêu và phát huy hiệu quả lâu dài.
Có thể thấy, Nghị định số 268/2026/NĐ-CP không chỉ thay thế quy định cũ mà còn đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng về thể chế đối với lĩnh vực khuyến nông trong bối cảnh nông nghiệp Việt Nam đang đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế tuần hoàn và xây dựng nền nông nghiệp sinh thái. Hệ thống chính sách đồng bộ từ đào tạo, truyền thông, xây dựng mô hình, nhân rộng mô hình đến xã hội hóa và tăng cường trách nhiệm trong chuyển giao công nghệ sẽ tạo nền tảng để hoạt động khuyến nông phát triển theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và hiệu quả hơn.
Khi được triển khai đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, Nghị định 268/2026/NĐ-CP sẽ góp phần rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất, thúc đẩy ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào đồng ruộng, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị nông sản, đồng thời tăng sức cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.
Xem nội dung chi tiết trong file đính kèm. Tải file đính kèm
Phạm Hùng
