Đánh thức những vùng đất từng bị lãng quên
Không phải ngẫu nhiên mà cây sen đang trở thành lựa chọn của nhiều địa phương trong quá trình tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Trên khắp các vùng đồng bằng và trung du, không ít diện tích đất chiêm trũng, ruộng lầy hay vùng sản xuất lúa kém hiệu quả từng bị bỏ hoang nhiều năm do năng suất thấp, chi phí canh tác cao và khó thích ứng với biến đổi khí hậu. Những khoảng đất ấy từng được xem là "vùng trũng" trong phát triển kinh tế nông nghiệp.
![]() |
| Từ những vùng đất trũng, đất lúa kém hiệu quả từng bị bỏ hoang, cây sen đang từng bước khẳng định giá trị kinh tế nhờ ứng dụng giống mới, khoa học kỹ thuật và liên kết sản xuất, mở ra hướng phát triển nông nghiệp sinh thái gắn với du lịch bền vững. - (Ảnh: HTX hoa sen Vân Đài) |
Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi trong tư duy sản xuất và định hướng phát triển nông nghiệp đa giá trị, những vùng đất khó ấy đang được "đánh thức" bằng một loài cây tưởng chừng rất đỗi quen thuộc – cây sen.
Những năm gần đây, tại nhiều địa phương như Quy Mông, Việt Hồng, Trấn Yên (tỉnh Lào Cai), Lệ Thủy (Quảng Trị), Đông Triều (Quảng Ninh) hay Đại An (Đà Nẵng), cây sen không chỉ góp phần phủ xanh những vùng đất bỏ hoang mà còn tạo dựng một hướng phát triển kinh tế mới, gắn kết giữa sản xuất nông nghiệp, chế biến, du lịch sinh thái và bảo tồn cảnh quan.
Thực tế, trước khi có sự tham gia của các cơ quan khoa học, người dân ở nhiều nơi đã chủ động đưa cây sen vào trồng trên các ao, đầm hoặc ruộng trũng. Tuy nhiên, việc sản xuất chủ yếu mang tính tự phát. Giống sen được lựa chọn dựa trên kinh nghiệm, thiếu đánh giá về khả năng thích nghi, dẫn đến năng suất không ổn định, chất lượng hoa và hạt không đồng đều, hiệu quả kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng.
Điều đó đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách tiếp cận, từ trồng sen theo phong trào sang phát triển cây sen như một ngành hàng có quy hoạch, có khoa học công nghệ và có thị trường tiêu thụ.
Khoa học mở đường cho vùng sen hàng hóa
Một trong những dấu mốc quan trọng của quá trình chuyển đổi này là việc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển hoa, cây cảnh thuộc Viện Nghiên cứu Rau quả triển khai mô hình khảo nghiệm các giống sen mới tại các xã Quy Mông, Việt Hồng và Trấn Yên.
Trên diện tích 4 ha, bảy giống sen mới gồm Quan Âm, Mặt Bằng, Super, Son Môi, Bách Diệp, Ánh Hồng và Vân Đài được đưa vào khảo nghiệm nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng, thích nghi với điều kiện đất trũng, chất lượng hoa, năng suất hạt cũng như tiềm năng phát triển thành sản phẩm hàng hóa.
![]() |
| PGS.TS Đặng Văn Đông, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Rau quả |
Theo PGS.TS Đặng Văn Đông, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Rau quả, mục tiêu của chương trình không chỉ dừng ở việc lựa chọn giống phù hợp mà còn hướng tới xây dựng vùng sản xuất tập trung, tạo nguồn nguyên liệu ổn định phục vụ chế biến và phát triển du lịch sinh thái.
Đó cũng là điểm khác biệt căn bản giữa mô hình khảo nghiệm hiện nay với cách sản xuất trước đây của người dân.
Nếu như trước kia mỗi hộ tự tìm giống, tự trồng theo kinh nghiệm thì nay toàn bộ quy trình từ lựa chọn giống, hỗ trợ vật tư, hướng dẫn kỹ thuật đến theo dõi sinh trưởng đều được thực hiện đồng bộ. Các cán bộ kỹ thuật trực tiếp xuống đồng ruộng, đồng hành cùng nông dân trong từng giai đoạn chăm sóc nhằm đánh giá chính xác khả năng thích nghi của từng giống sen.
Việc đưa khoa học công nghệ vào sản xuất không chỉ giúp giảm rủi ro mà còn mở ra cơ hội hình thành các vùng chuyên canh sen quy mô lớn, tạo tiền đề cho việc xây dựng thương hiệu và phát triển chuỗi giá trị bền vững.
Từ một loài hoa đến hệ sinh thái kinh tế
Điểm đáng chú ý trong các mô hình hiện nay là tư duy khai thác toàn diện giá trị của cây sen.
![]() |
| Từ sản phẩm thô đến sản phẩm sáng tạo, từ cây trồng đơn giá trị thành chuỗi giá trị tuần hoàn: lá làm trà, hạt làm thực phẩm, ngó sen chế biến món ăn, bã sen chiết xuất tinh dầu, thậm chí bùn sen được nghiên cứu để sản xuất mỹ phẩm dưỡng da tự nhiên. |
Nếu trước đây sen chủ yếu được trồng để lấy hoa hoặc lấy hạt thì hiện nay gần như mọi bộ phận của cây đều được tính toán để tạo ra giá trị kinh tế.
Các giống sen lấy hoa phục vụ nhu cầu trang trí, cắm hoa nghệ thuật và tạo cảnh quan cho du lịch sinh thái. Những cánh đồng sen nở rộ không chỉ mang vẻ đẹp đặc trưng của làng quê Việt Nam mà còn trở thành điểm đến hấp dẫn đối với du khách và những người yêu nhiếp ảnh.
Trong khi đó, nhóm sen lấy hạt được định hướng trở thành nguồn nguyên liệu cho chế biến thực phẩm chất lượng cao. Hạt sen tươi, hạt sen sấy, trà tim sen, bột hạt sen hay các sản phẩm dinh dưỡng từ sen đều có giá trị gia tăng cao và thị trường tiêu thụ ngày càng mở rộng.
Không dừng lại ở đó, ngó sen được khai thác như một loại rau sạch giàu dinh dưỡng; củ sen trở thành nguyên liệu chế biến thực phẩm; lá sen được sử dụng trong ẩm thực, dược liệu và các sản phẩm thủ công mỹ nghệ.
Chính sự đa dạng ấy đã giúp cây sen vượt ra khỏi khuôn khổ của một loại cây trồng đơn thuần để trở thành trung tâm của một hệ sinh thái kinh tế, nơi nhiều ngành nghề cùng tham gia tạo nên giá trị trên cùng một diện tích đất.
Đây cũng là hướng phát triển phù hợp với xu thế nông nghiệp tuần hoàn và kinh tế xanh, khi mọi nguồn tài nguyên đều được khai thác hiệu quả, hạn chế tối đa sự lãng phí và nâng cao giá trị gia tăng cho người sản xuất.
Hiệu quả từ thực tiễn – minh chứng cho hướng đi đúng
Những kết quả bước đầu tại nhiều địa phương cho thấy, khi cây sen được đưa vào sản xuất theo quy hoạch, có sự đồng hành của khoa học kỹ thuật và liên kết tiêu thụ, hiệu quả mang lại vượt xa giá trị của một mô hình chuyển đổi cây trồng đơn thuần. Cây sen đang trở thành "chìa khóa" mở ra hướng phát triển kinh tế bền vững trên những vùng đất vốn được xem là khó khai thác.
![]() |
| PGS.TS. Đặng Văn Đông – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Rau quả giới thiệu các sản phẩm được chế biến từ cây Sen. |
Tại Quảng Trị, mô hình chuyển đổi đất sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả sang trồng sen do Trung tâm Khuyến nông tỉnh triển khai đã bước đầu ghi nhận những tín hiệu tích cực. Hơn 11ha đất tại các xã Lệ Thủy, Quảng Ninh và Vĩnh Hoàng được chuyển đổi sang trồng giống sen hồng cao sản chuyên lấy hạt. Đến nay, nhiều diện tích đã sinh trưởng tốt, bắt đầu cho hoa và hứa hẹn một vụ thu hoạch khả quan.
Theo tính toán của ngành nông nghiệp địa phương, năng suất sen có thể đạt từ 2,5–3 tấn hạt/ha, trong đó trên 80% sản lượng được liên kết tiêu thụ. Với mức thu nhập ước đạt từ 100–150 triệu đồng/ha, mô hình đã chứng minh khả năng nâng cao giá trị sử dụng đất, đồng thời giúp người dân giảm phụ thuộc vào cây lúa trên những chân ruộng năng suất thấp.
Điểm đáng ghi nhận hơn cả là sự thay đổi trong tư duy sản xuất của người dân. Từ việc canh tác theo kinh nghiệm, nhiều hộ đã chủ động tiếp cận kỹ thuật mới, tuân thủ quy trình chăm sóc và mạnh dạn áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất. Tại vùng chuyển đổi Tuy Lộc, máy bay không người lái được sử dụng để bón phân, góp phần giảm đáng kể chi phí nhân công, nâng cao hiệu quả lao động và từng bước đưa nông nghiệp thông minh vào đồng ruộng.
Không chỉ dừng ở việc tạo ra sản phẩm, mô hình còn thúc đẩy hình thành chuỗi liên kết giữa người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp thu mua. Đây là yếu tố quan trọng giúp nông dân yên tâm đầu tư sản xuất, hạn chế tình trạng "được mùa mất giá" vốn tồn tại ở nhiều loại nông sản.
Người nông dân trở thành chủ thể đổi mới
Nếu Quảng Trị cho thấy hiệu quả của sự hỗ trợ từ chính sách và khuyến nông, thì câu chuyện tại phường Đông Triều lại là minh chứng sinh động cho vai trò tiên phong của người nông dân trong quá trình đổi mới sản xuất.
Hơn ba năm trước, khu đầm rộng trên 3ha ở Bình Lục Hạ vẫn là vùng đất chiêm trũng bị bỏ hoang vì không thể trồng lúa. Từ quyết tâm không để đất bị lãng phí, ông Nguyễn Văn Họa đã mạnh dạn thuê lại diện tích này để cải tạo, đưa cây sen vào sản xuất.
Không dừng ở những giống truyền thống, ông chủ động tìm hiểu thị trường, tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật và lựa chọn nhiều giống sen mới có giá trị thương phẩm cao như sen Quan Âm hay sen Super. Cùng với đó là việc đa dạng hóa sản phẩm bằng cách kết hợp trồng sen lấy hoa, lấy hạt và phát triển thêm diện tích hoa huệ.
Hiệu quả kinh tế nhanh chóng được khẳng định. Mỗi hecta sen lấy hạt mang lại doanh thu khoảng 130 triệu đồng, sen lấy hoa đạt khoảng 150 triệu đồng/ha. Tổng doanh thu từ mô hình của gia đình đạt khoảng 350 triệu đồng mỗi năm, cao hơn nhiều so với sản xuất lúa trước đây.
Điều đáng quý hơn cả là mô hình của ông Họa đã tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng. Từ một vài hộ tiên phong, đến nay gần 100 hội viên nông dân tại Đông Triều đã tham gia cải tạo đất chiêm trũng để trồng sen. Việc thành lập Chi hội nghề nghiệp trồng hoa sen không chỉ tạo điều kiện chia sẻ kinh nghiệm sản xuất mà còn mở ra cơ hội liên kết tiêu thụ, từng bước hình thành vùng sản xuất tập trung.
Thực tế này cho thấy, khi người nông dân được tiếp cận khoa học kỹ thuật, được định hướng thị trường và có niềm tin vào hiệu quả sản xuất, họ hoàn toàn có thể trở thành lực lượng tiên phong trong đổi mới nông nghiệp.
Từ cánh đồng sản xuất đến điểm đến du lịch cộng đồng
Một giá trị nổi bật khác mà cây sen mang lại là khả năng kết nối giữa nông nghiệp với du lịch trải nghiệm. Điều này được thể hiện rõ tại cánh đồng Cổ Cò, thôn Đại An, xã Phú Ninh, thành phố Đà Nẵng.
Trên những chân ruộng lúa trước đây cho năng suất thấp, chính quyền địa phương đã vận động người dân chuyển đổi sang mô hình trồng sen kết hợp nuôi cá, nuôi ốc và phát triển du lịch cộng đồng. Khi mùa sen nở, cả cánh đồng trở thành điểm tham quan, chụp ảnh hấp dẫn, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài địa phương.
Nguồn thu của người dân vì thế không chỉ đến từ hạt sen. Dịch vụ tham quan, trải nghiệm, ẩm thực, cùng mô hình sản xuất kết hợp thủy sản đã tạo nên nhiều dòng doanh thu trên cùng một diện tích đất. Giá trị của cánh đồng không còn được đo bằng sản lượng thu hoạch mà bằng khả năng tạo việc làm, thu hút khách du lịch và quảng bá hình ảnh địa phương.
Đây chính là mô hình nông nghiệp đa giá trị mà ngành nông nghiệp đang hướng tới: sản xuất gắn với bảo tồn cảnh quan, phát triển văn hóa và dịch vụ, qua đó nâng cao thu nhập một cách bền vững cho người dân nông thôn.
Từ kết quả khảo nghiệm nhiều giống sen mới tại các địa phương như Hà Nội, Hưng Yên, Hải Phòng, Huế, Đồng Tháp, Lào Cai và nhiều vùng sinh thái khác, các nhà khoa học nhận thấy cây sen đang bộc lộ rõ tiềm năng trở thành một ngành hàng nông nghiệp đa giá trị. Không chỉ mang giá trị văn hóa truyền thống, cây sen còn mở ra hướng chuyển đổi hiệu quả cho các vùng đất trũng, đất lúa kém hiệu quả, đồng thời tạo động lực phát triển du lịch sinh thái, kinh tế tuần hoàn và nâng cao thu nhập bền vững cho người dân. PGS.TS. Đặng Văn Đông nhận định: “Sen không chỉ là một loài hoa đẹp mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam, mà hoàn toàn có thể phát triển thành một ngành hàng kinh tế xanh, đa giá trị, góp phần chuyển đổi hiệu quả đất trũng, nâng cao thu nhập và tạo sinh kế bền vững cho nông dân.”
Kiến tạo tương lai từ những vùng đất khó
Dẫu đã đạt được nhiều kết quả tích cực, hành trình phát triển cây sen vẫn còn không ít thách thức. Biến đổi khí hậu, nguy cơ ngập úng, hệ thống thủy lợi chưa đồng bộ, kinh nghiệm sản xuất của một bộ phận người dân còn hạn chế và sự liên kết thị trường chưa thật bền vững là những vấn đề cần tiếp tục tháo gỡ.
Quan trọng hơn, để cây sen thực sự trở thành ngành hàng có sức cạnh tranh, cần tiếp tục đầu tư vào công tác chọn tạo giống, xây dựng vùng nguyên liệu tập trung, phát triển công nghiệp chế biến, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước cũng như xuất khẩu. Song song với đó là phát triển các mô hình du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, góp phần gia tăng giá trị cho mỗi bông sen, mỗi hạt sen và mỗi vùng đất.
Từ những đầm lầy từng bị bỏ quên đến những cánh đồng sen tràn đầy sức sống hôm nay là minh chứng sinh động cho hiệu quả của tư duy đổi mới trong phát triển nông nghiệp. Khi khoa học công nghệ, chính sách hỗ trợ và sự năng động của người dân cùng hội tụ, những vùng đất khó không còn là gánh nặng mà trở thành nguồn lực phát triển.
Hành trình của cây sen vì thế không chỉ là câu chuyện về một loài cây thích nghi với vùng đất trũng, mà còn là biểu tượng của quá trình chuyển đổi nông nghiệp theo hướng xanh, đa giá trị và bền vững. Mỗi mùa sen nở không chỉ mang đến vẻ đẹp thanh khiết của thiên nhiên mà còn gieo thêm niềm tin về một tương lai mới, nơi những vùng đất từng bị lãng quên đang được đánh thức để tạo dựng những giá trị kinh tế, văn hóa và sinh thái lâu dài.
Phạm Hùng



