Cùng với sông Hương – núi Ngự, chiếc nón lá và tà áo dài tím từ lâu đã trở thành một cặp biểu tượng văn hóa gắn bó sâu sắc với đời sống người dân xứ Huế. Trong dòng chảy thi ca, hình ảnh ấy từng được nhà thơ Bùi Giáng gợi nhắc bằng những câu thơ giàu cảm xúc: “Chiếc nón bài thơ/ Đưa em về phố Huế/ Nắng xuyên qua vành nón/ Thấy cả hồn xứ sở trong thơ...”
Không chỉ hiện diện trong văn chương, nón lá còn là một phần của đời sống thường nhật. Đi dọc các vùng ven đô Huế, không khó để bắt gặp những làng nghề làm nón trứ danh như Dạ Lê, Phú Cam, Tây Hồ hay Vân Thê – nơi vẫn bền bỉ gìn giữ một nghề truyền thống qua nhiều thế kỷ.
![]() |
| Nghề nón/chằm nón lá đã gắn với tên tuổi của làng Vân Thê, xã Thanh Thủy (nay là phường Thanh Thủy), TP Huế từ năm 1553. |
Dấu ấn lịch sử và một làng nghề bền bỉ
Nghề nón, hay chằm nón lá, đã gắn với tên tuổi làng Vân Thê từ năm 1553, theo ghi nhận trong Địa chí Hương Thủy (NXB Thuận Hóa, 1998). Trải qua nhiều biến động lịch sử, nghề vẫn được duy trì và phát triển liên tục cho đến hôm nay, trở thành một trong những sinh kế quan trọng của cộng đồng địa phương.
Tại phường Thanh Thủy (trước đây là xã Thủy Thanh, thị xã Hương Thủy), nghề làm nón không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn là một phần bản sắc. Đây là nghề tiểu thủ công nghiệp chủ lực, với nguyên liệu quen thuộc như lá, tre, nứa, lồ ô. Dưới đôi bàn tay khéo léo của người dân, những vật liệu giản dị ấy được kết tinh thành các sản phẩm có giá trị thẩm mỹ cao, được thị trường trong và ngoài địa phương ưa chuộng.
Sản phẩm nón lá Vân Thê cũng không ngừng được cải tiến về mẫu mã, vừa giữ được nét truyền thống, vừa đáp ứng thị hiếu hiện đại. Nhờ đó, nghề nón nơi đây duy trì được sức sống ổn định, góp phần tạo việc làm và thu nhập cho người dân.
Công phu sau một vành nón
Để hoàn thiện một chiếc nón lá đạt yêu cầu, người thợ phải trải qua nhiều công đoạn tỉ mỉ, đòi hỏi sự kiên nhẫn và kỹ thuật cao. Từ việc chọn khung, uốn vành, lợp lá, đến cắt hoa văn, vẽ họa tiết, rồi chằm từng mũi chỉ cho đến khi hoàn thiện – tất cả đều cần sự chính xác và đôi tay thuần thục.
Công đoạn cuối cùng là xử lý bề mặt, đánh bóng và bảo quản, trước khi sản phẩm được đưa ra thị trường. Chính sự chăm chút trong từng chi tiết đã tạo nên giá trị riêng cho nón lá Vân Thê – không chỉ là vật dụng che mưa nắng, mà còn là sản phẩm mang tính thẩm mỹ và văn hóa.
Trong không gian làng nghề, hình ảnh các thế hệ cùng ngồi bên vành nón vẫn diễn ra hằng ngày. Những người bà, người mẹ vừa làm vừa chỉ dạy, còn lớp trẻ tiếp nhận nghề một cách tự nhiên như tiếp nhận nếp nhà.
Một khoảnh khắc tại Vân Thê ghi lại hình ảnh bà và cháu gái bên chiếc nón đang lên khung. Đứa trẻ vừa học vừa làm, những thao tác dần trở nên quen thuộc. Nghề được truyền đi không bằng những lời giảng giải cầu kỳ, mà bằng sự kề cận, bằng nhịp sống thường ngày – âm thầm mà bền chặt.
![]() |
| Các nghệ nhân đang chằm nón, xếp lá thủ công, xung quanh là nhiều nhiếp ảnh gia ghi lại khoảnh khắc đẹp này. |
Trong bối cảnh hiện đại, nón lá không còn bó hẹp trong chức năng truyền thống. Nhiều sản phẩm được sáng tạo thêm về hình thức, như vẽ họa tiết, trang trí biểu tượng văn hóa, hay trở thành quà lưu niệm phục vụ du lịch.
Đáng chú ý, nghề nón lá Vân Thê đã được UBND thành phố Huế công nhận là Nghề truyền thống theo Quyết định số 1915/QĐ-UBND ngày 10/8/2022. Đây không chỉ là sự ghi nhận về mặt pháp lý, mà còn là động lực để làng nghề tiếp tục bảo tồn, phát huy giá trị và thích ứng với thị trường.
Tiktok: https://tiktok.com/@tapchivietnamhuongsac
Facebook: https://facebook.com/tapchivietnamhuongsac.vn
Youtube: https://youtube.com/@tapchivietnamhuongsac68

