Dọc tuyến đường Hồ Chí Minh qua xã Nghĩa Hành (Nghệ An), những lò nấu mật mía vẫn đỏ lửa khi vụ sản xuất đang vào cao điểm. Khói bếp quyện cùng mùi thơm ngọt của mật cô đặc lan khắp xóm nhỏ, tạo nên nét đặc trưng của vùng bán sơn địa nhiều năm nay gắn bó với cây mía.
Từ tháng 10 âm lịch đến khoảng tháng Ba năm sau là mùa ép mật. Khi mía vào vụ thu hoạch, các cơ sở bắt đầu “gối mẻ” liên tục để đáp ứng nhu cầu thị trường. Cao điểm tiêu thụ thường rơi vào những tháng cuối năm, song sau Tết, nhiều đơn hàng vẫn tiếp tục được giao cho các đại lý và thương lái trong, ngoài tỉnh.
![]() |
| Toàn xã hiện có khoảng 30 cơ sở chuyên nấu mật, sản lượng đạt 250.000–300.000 lít mỗi năm. |
Trước đây, các xã Tân Hương, Phú Sơn và Nghĩa Hành (thuộc huyện Tân Kỳ cũ) nổi tiếng với nghề nấu mật mía; nay đều thuộc xã Nghĩa Hành. Toàn xã hiện có khoảng 30 cơ sở chuyên nấu mật, sản lượng đạt 250.000–300.000 lít mỗi năm.
Một lò nấu thường xây theo kiểu liên hoàn với 3–5 miệng, chảo kim loại đường kính 1,2–2 m, dung tích 170–200 lít. Chi phí đầu tư khoảng 30–40 triệu đồng mỗi lò, chưa kể máy ép mía và các vật dụng phụ trợ. Để vận hành nhịp nhàng cần 3–4 lao động: người giữ lửa, người vớt bọt, người ép mía và đóng mật thành phẩm.
Theo các chủ lò, khâu vớt bọt, loại bỏ tạp chất quyết định màu sắc và độ sánh của mật. Nếu làm không kỹ, mật sẽ thâm và kém trong. Trung bình một mẻ kéo dài 3–4 giờ, khi đạt độ cô đặc mới chắt ra can để nguội.
Chị Nguyễn Thị Pháp, chủ cơ sở Trường Pháp, cho biết ba tháng cuối năm là giai đoạn sản xuất nhộn nhịp nhất. Gia đình chị thu mua hàng chục tấn mía trong vùng để đảm bảo nguyên liệu. Năm nay giá mía tăng nên giá mật nhỉnh hơn, song sức tiêu thụ vẫn ổn định.
Anh Nguyễn Văn Đức, chủ lò Đức Hiền, cho hay gia đình gắn bó với nghề hơn 10 năm. Vào chính vụ, mỗi ngày anh nấu ba mẻ, sản lượng khoảng 800 lít, công việc bắt đầu từ 4h sáng đến gần 22h. Trung bình mỗi cơ sở sản xuất 8.000–10.000 lít mỗi vụ, giá bán phổ biến 28.000–30.000 đồng một lít; khi nguồn cung khan hiếm có thể lên 40.000 đồng.
Theo tính toán của các hộ, một tấn mía tươi cho khoảng 1,4 tạ mật cô đặc. Sau khi trừ chi phí, mỗi vụ có thể thu lãi 70–100 triệu đồng, trở thành nguồn thu chính của nhiều gia đình.
Không chỉ là sinh kế, mật mía còn gắn với ẩm thực truyền thống. Đây là nguyên liệu quen thuộc trong các món cá kho, thịt kho, sườn rim, chè, bánh mật, bánh gai hay kẹo cuđơ. Ông Hoàng Văn Nhưng (Diễn Châu, Nghệ An) cho biết cá biển kho mật mía bằng nồi đất, cùng riềng, gừng, ớt là món ăn được nhiều gia đình gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Theo ông Nguyễn Xuân Nam, Chủ tịch UBND xã Nghĩa Hành, mật mía địa phương đã đạt chứng nhận OCOP 3 sao, được tiêu thụ trong nước và một phần xuất sang Lào. Nghề nấu mật góp phần giải quyết việc làm cho nhiều lao động, đồng thời bao tiêu mía cây cho người dân trong và ngoài xã.
Những năm gần đây, các cơ sở đẩy mạnh quảng bá trên mạng xã hội, giới thiệu quy trình sản xuất và bán hàng trực tiếp tới người tiêu dùng. Các hộ cũng thành lập tổ hợp tác, cải tiến quy trình, đầu tư bao bì, nhãn mác, truy xuất nguồn gốc để mở rộng thị trường.
Giữa nhịp sống hiện đại, lò mật mía ở Nghĩa Hành vẫn đều lửa suốt mùa vụ, giữ vị ngọt truyền thống và tạo sinh kế bền vững cho người dân nơi đây.
Tiktok: https://tiktok.com/@tapchivietnamhuongsac
Facebook: https://facebook.com/tapchivietnamhuongsac.vn
Youtube: https://youtube.com/@tapchivietnamhuongsac68
