Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 180/2026/NĐ-CP quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng được xem là bước đi quan trọng trong quá trình hoàn thiện thể chế phát triển thị trường carbon tại Việt Nam. Không chỉ tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động cung ứng, trao đổi và chuyển nhượng tín chỉ carbon rừng, Nghị định còn mở ra hướng đi mới nhằm khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của rừng gắn với mục tiêu phát triển xanh và bền vững.
![]() |
| Việc cung ứng và sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng không được ảnh hưởng đến việc thực hiện cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính mà Việt Nam tham gia. |
Theo quy định, Nghị định 180/2026/NĐ-CP quy định về đối tượng, hình thức chi trả, mức chi trả và quản lý, sử dụng tiền dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng; dự án carbon rừng, xác định kết quả giảm phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon rừng được cung ứng. Đây được xem là nền tảng quan trọng để thúc đẩy hình thành và vận hành thị trường tín chỉ carbon rừng trong nước theo hướng minh bạch, đồng bộ và phù hợp với xu thế quốc tế.
Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị định là quy định rõ nguyên tắc cung ứng và sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng. Theo đó, hoạt động này phải đảm bảo công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình; hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, chủ rừng và các bên liên quan; đồng thời bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái. Những nguyên tắc này cho thấy định hướng phát triển thị trường carbon rừng không chỉ phục vụ mục tiêu kinh tế mà còn gắn chặt với nhiệm vụ bảo vệ tài nguyên và lợi ích cộng đồng.
Nghị định cũng nhấn mạnh việc cung ứng và sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng không được ảnh hưởng đến việc thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính mà Việt Nam tham gia. Đây là yếu tố quan trọng nhằm bảo đảm sự đồng bộ giữa chính sách trong nước với các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy mục tiêu phát thải ròng bằng “0”.
Để tránh tình trạng giao dịch chồng chéo hoặc mua bán trùng lặp, Nghị định quy định rõ kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng đã được trao đổi, chuyển nhượng theo hợp đồng hoặc trên sàn giao dịch carbon thì bên cung ứng hoặc đại diện chủ sở hữu kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng không được tiếp tục trao đổi, chuyển nhượng cho các bên sử dụng khác. Quy định này góp phần bảo đảm tính minh bạch và uy tín của thị trường carbon rừng Việt Nam.
Liên quan đến quyền sở hữu kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon rừng, Nghị định xác lập rõ trách nhiệm và quyền hạn của các chủ thể. Đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân, Bộ Nông nghiệp và Môi trường là đại diện chủ sở hữu kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng tạo ra từ dự án carbon rừng do cơ quan chuyên môn thuộc Bộ thực hiện. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là đại diện chủ sở hữu kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng tạo ra từ dự án carbon rừng do cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh thực hiện. Trong khi đó, chủ rừng được sở hữu kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng tạo ra từ dự án carbon rừng do chủ rừng thực hiện.
Không dừng lại ở việc quy định cơ chế sở hữu, Nghị định còn hướng nguồn lực thu được từ tín chỉ carbon quay trở lại phục vụ công tác bảo vệ và phát triển rừng. Theo đó, nguồn tiền thu được từ trao đổi, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng của chủ rừng là tổ chức đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân sẽ được ưu tiên hỗ trợ bảo vệ, phát triển rừng và sinh kế cho cộng đồng dân cư; xây dựng dự án carbon rừng; đo đạc, báo cáo, thẩm định và xây dựng cơ sở dữ liệu về lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh. Đây được xem là cơ chế quan trọng để tái đầu tư cho tài nguyên rừng và nâng cao đời sống cộng đồng gắn bó với rừng.
Nghị định cũng mở rộng cơ hội tham gia thị trường carbon quốc tế khi quy định việc trao đổi, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng ra thị trường quốc tế thực hiện theo quy định của Chính phủ về trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon. Điều này cho thấy định hướng từng bước đưa tín chỉ carbon rừng Việt Nam tham gia sâu hơn vào thị trường toàn cầu.
Một điểm đáng chú ý khác là chủ rừng được hợp tác, liên kết với tổ chức, cá nhân để thực hiện dự án carbon rừng; xây dựng, đo đạc, báo cáo, thẩm định, cấp tín chỉ carbon rừng và chia sẻ kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng theo quy định của pháp luật. Quy định này được kỳ vọng sẽ tạo thêm động lực thu hút doanh nghiệp, tổ chức đầu tư vào lĩnh vực lâm nghiệp và carbon rừng.
Để tham gia thị trường carbon rừng, Nghị định đặt ra nhiều yêu cầu cụ thể đối với bên cung ứng dịch vụ hoặc đại diện chủ sở hữu. Theo đó, các chủ thể phải xây dựng, đăng ký dự án carbon rừng; tổ chức đo đạc, báo cáo, thẩm định kết quả giảm phát thải; được cấp tín chỉ carbon rừng theo quy định; đồng thời thực hiện nghĩa vụ đóng góp kết quả giảm phát thải và các nghĩa vụ tài chính về thuế, phí, lệ phí nếu có theo quy định pháp luật.
Việc cung ứng dịch vụ được thực hiện thông qua trao đổi, chuyển nhượng theo hợp đồng hoặc trên sàn giao dịch carbon. Đáng chú ý, chỉ được trao đổi, chuyển nhượng lượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng sau khi được Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác nhận. Quy định này nhằm bảo đảm tính pháp lý, minh bạch và kiểm soát chặt chẽ đối với hoạt động giao dịch carbon rừng.
Đối với bên sử dụng dịch vụ, Nghị định yêu cầu các tổ chức, doanh nghiệp phải hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp và các quy định liên quan của Việt Nam; thực hiện đúng nội dung hợp đồng hoặc tuân thủ quy định của Chính phủ về sàn giao dịch carbon trong nước và các sàn giao dịch carbon khác; đồng thời thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính về thuế, phí, lệ phí nếu có.
Về hình thức chi trả, Nghị định quy định bên sử dụng dịch vụ có thể trả tiền trực tiếp cho bên cung ứng dịch vụ theo hợp đồng hoặc trên sàn giao dịch carbon. Ngoài ra, bên sử dụng dịch vụ cũng có thể trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ thông qua hình thức ủy thác qua Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng theo hợp đồng hoặc trên sàn giao dịch carbon.
Đối với mức chi trả, Nghị định quy định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng là số tiền được tính bằng Đồng Việt Nam trên 01 tấn CO2 hoặc 01 tấn CO2 tương đương hoặc 01 tín chỉ carbon rừng. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ quy định phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân.
Giá trao đổi, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng được xác định thông qua hợp đồng hoặc trên sàn giao dịch carbon và được tính bằng Đồng Việt Nam. Trường hợp chuyển nhượng ra nước ngoài, giá trao đổi, chuyển nhượng được tính bằng ngoại tệ theo quy định của pháp luật Việt Nam về quản lý ngoại hối.
Nghị định cũng quy định rõ trách nhiệm của các đối tượng liên quan trong việc xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, đồng thời đảm bảo giá trao đổi, chuyển nhượng lần đầu đối với từng kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng không thấp hơn mức chi trả được xác định.
Có thể thấy, Nghị định 180/2026/NĐ-CP không chỉ tạo hành lang pháp lý cho hoạt động hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng mà còn mở ra cơ hội hình thành nền kinh tế carbon từ rừng tại Việt Nam. Khi giá trị của rừng được lượng hóa thông qua tín chỉ carbon, tài nguyên rừng sẽ không chỉ dừng lại ở vai trò bảo vệ môi trường mà còn trở thành nguồn lực kinh tế quan trọng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng xanh, phát triển sinh kế cộng đồng và thực hiện cam kết giảm phát thải khí nhà kính.
Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026, được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng quan trọng để ngành lâm nghiệp Việt Nam từng bước hội nhập sâu hơn vào thị trường carbon trong nước và quốc tế, đồng thời mở ra hướng phát triển bền vững cho kinh tế rừng trong giai đoạn mới.
Xem và tải Nghị định số 180/2026/NĐ-CP tại đây
Phạm Hùng
