Tư tưởng Hồ Chí Minh với bầu cử Quốc hội và Quốc hội thống nhất toàn quốc năm 1976

Tư tưởng Hồ Chí Minh về bầu cử và xây dựng Quốc hội là nền tảng cho sự hình thành Nhà nước của dân, do dân và vì dân ở Việt Nam. Từ Tổng tuyển cử năm 1946 đến cuộc bầu cử Quốc hội thống nhất năm 1976, tinh thần dân chủ ấy đã trở thành động lực gắn kết toàn dân tộc.

Tháng 10 năm 1944, trước thời cơ giải phóng dân tộc đến gần, Bác Hồ luôn nung nấu việc thành lập Nhà nước Việt Nam thế nào cho phù hợp. Gửi thư cho quốc dân đồng bào, Người viết: “Chúng ta trước phải có một cơ cấu đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân ta. Mà cơ cấu ấy thì phải do một cuộc toàn quốc đại hội gồm tất cả các đảng phái cách mệnh và đoàn thể ái quốc trong nước bầu cử ra”.

Ngày 16 tháng 8 năm 1945 tại Tân Trào, Đại hội đại biểu toàn quốc gồm hơn 60 đại biểu đại diện cho các đảng phái chính trị, các đoàn thể cứu quốc, các dân tộc, tôn giáo đã thành lập Ủy ban dân tộc giải phóng do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch phát động chương trình hành động 10 điểm, trong đó điểm thứ 5: “Ban bố những quyền của dân, do dân: nhân quyền, tài quyền, dân quyền; quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ, dân tộc bình quyền, nam nữ bình quyền”.

Sau khi Tổng khởi nghĩa Tháng Tám giành được thắng lợi, Ủy ban dân tộc giải phóng được cải tổ thành Chính phủ lâm thời. Nhưng để quyền lực thực sự thuộc về Nhân dân, Hồ Chí Minh đề nghị thành lập một Chính phủ chính thức có đủ tư cách pháp lý để kịp thời giải quyết các công việc đối nội và đối ngoại của đất nước. Một Chính phủ hợp pháp như vậy chỉ có thể được thành lập từ một Quốc hội do dân bầu ra. Tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3/9/1945, một trong những công việc khẩn cấp mà Hồ Chí Minh đề nghị Chính phủ phải tập trung giải quyết là vấn đề bầu cử Quốc hội. Người nói: “Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh với bầu cử Quốc hội và Quốc hội thống nhất toàn quốc năm 1976
Chủ tịch Hồ Chí Minh bỏ phiếu bầu cử Quốc hội khóa I - (Ảnh tư liệu)

Dân ta chưa được bầu cử bao giờ và chưa có kiến thức về bầu cử, nhưng dưới sự chỉ đạo khẩn trương của Người và Trung ương, lại được Nhân dân phấn khởi ủng hộ nên chỉ trong 4 tháng, công tác chuẩn bị đã cơ bản hoàn thành. Hồ Chí Minh cho rằng trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội, càng nhiều cử tri tham gia bỏ phiếu càng tốt. Ngày 5 tháng 01 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu, toàn văn như sau: “Ngày mai mùng 6 tháng giêng năm 1946,

Ngày mai là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ,

Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà Nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình.

Ngày mai, dân ta sẽ tỏ cho cho các chiến sĩ ở miền Nam rằng: về mặt quân sự thì các chiến sĩ dùng súng đạn mà đấu quân thù; về mặt chính trị thì Nhân dân dùng lá phiếu mà chống với quân địch. Một lá phiếu cũng có sức lực như một viên đạn.

Ngày mai, quốc dân ta sẽ tỏ cho thế giới biết rằng dân Việt Nam đã:

Kiên quyết đoàn kết chặt chẽ

Kiên quyết chống bọn thực dân

Kiên quyết tranh quyền độc lập

Ngày mai, dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình gánh vác việc nước.

Ngày mai, người ra ứng cử thì đông, nhưng số đại biểu thì ít, lẽ tất nhiên, có người được cử, có người không được cử.

Những người trúng cử sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào. Phải luôn luôn nhớ và thực hành câu: vì lợi nước, quên lợi nhà; vì lợi chung, quên lợi riêng. Phải làm cho xứng đáng với đồng bào, cho xứng đáng với Tổ quốc.

Người không trúng cử cũng không nên ngã lòng. Mình đã tỏ lòng hăng hái với nước, với dân thì luôn luôn phải giữ lòng hăng hái đó. Ở trong Quốc hội hay ngoài Quốc hội mình cũng ra sức giúp ích nước nhà. Lần này không được cử, ta cứ gắng làm cho quốc dân nhận rõ tài đức của ta, thì lần sau Nhân dân quyết định cử ta.

Ngày mai, tất cả các cử tri đều phải nhớ đi bầu cử. Ngày mai, mỗi người đều nên vui vẻ hưởng quyền lợi của một người dân độc lập, tự do”.

Quan niệm của Hồ Chí Minh về việc mở rộng cho mọi tầng lớp Nhân dân tham gia bầu cử Quốc hội có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Do có những quan niệm đúng đắn về bầu cử của Hồ Chí Minh và dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng ta, trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội đầu tiên ngày 6/1/1946 đã có 89% tổng số cử tri đi bỏ phiếu, nhiều nơi đạt 95%. Tuyệt đại đa số các địa phương chỉ bầu một lần. Cả nước đã bầu được 333 đại biểu, trong đó 57% số đại biểu thuộc đảng phái khác nhau, 43% không đảng phái; 87% số đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sỹ cách mạng; 10 đại biểu phụ nữ và 34 đại biểu dân tộc thiểu số.

Năm 1953 trong các bài viết về Thường thức chính trị đăng trên báo Cứu quốc, Hồ Chí Minh tiếp tục đề cập tới vấn đề quyền bầu cử của Nhân dân: “Trong các cuộc bầu cử, công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai, tôn giáo, mức tài sản, trình độ văn hóa, không phân biệt nòi giống đều có quyền tham gia. Đó là một cách rất hợp lý để Nhân dân lao động thực hành quyền thống trị của mình”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh với bầu cử Quốc hội và Quốc hội thống nhất toàn quốc năm 1976
Kỳ họp thứ Nhất - Quốc hội khóa I, ngày 29/12/1956 - (Ảnh tư liệu)

Quốc hội khóa I là Quốc hội đoàn kết thống nhất dân tộc, Quốc hội kháng chiến đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử do Tổ quốc giao phó.

Bước vào đầu năm 1960, cách mạng trên cả hai miền Nam, Bắc đã giành được những thắng lợi to lớn. Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa phải được tiếp tục củng cố để đáp ứng những yêu cầu của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Ngày 24 tháng 4 năm 1960, khi tham gia tiếp xúc cử tri ở Hà Nội chuẩn bị bầu cử Quốc hội khóa II, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Quốc hội khóa II phải là Quốc hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc làm nền tảng vững chắc cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Vì vậy, Quốc hội phải có những đại biểu thật xứng đáng, những đại biểu một lòng một dạ phục vụ Tổ quốc, phục vụ Nhân dân và phục vụ chủ nghĩa xã hội”.

362 đại biểu trúng cử Quốc hội khóa II cùng với 91 đại biểu miền Nam trong Quốc hội khóa I được Quốc hội quyết định kéo dài nhiệm kỳ là hình ảnh khối đại đoàn kết dân tộc rộng rãi, phản ánh đầy đủ ý chí và nguyện vọng của Nhân dân Việt Nam. Đây là quyết định hợp tình, hợp lý, được Nhân dân cả nước đồng tình, hoan nghênh.

Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa II, các đại biểu Quốc hội đều thể hiện quyết tâm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước, liên hệ với cử tri, tìm hiểu và phản ánh ý kiến và nguyện vọng của Nhân dân với Quốc hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Quốc hội khóa I của ta là Quốc hội kháng chiến; Quốc hội khóa II là Quốc hội xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà”.

Vào những tháng cuối nhiệm kỳ Quốc hội khóa II, tình hình cách mạng miền Nam có những chuyển biến mạnh mẽ. Tại Hội nghị chính trị đặc biệt cuối tháng 3 năm 1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Cần tăng cường không ngừng chính quyền Nhân dân, nghiêm chỉnh thực hiện dân chủ với Nhân dân, chuyên chính với kẻ địch, triệt để chấp hành mọi chế độ và pháp luật của nhà nước. Cần tiến hành tốt cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa III sắp tới”.

Tối ngày 14 tháng 4 năm 1964, tại Đại hội nhân dân toàn thành phố Hà Nội do Ủy ban hành chính và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố tổ chức, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Lá phiếu của người cử tri tuy khuôn khổ nó bé nhỏ, nhưng giá trị của nó thì vô cùng to lớn. Nhân dân ta đã trải qua biết bao gian khổ, hy sinh biết bao xương máu trong cuộc cách mạng đánh đổ thực dân và phong kiến mới giành được nó. Nó chứng tỏ chế độ dân chủ và tự do của Nhà nước ta và quyền làm chủ thật sự của mỗi người công dân ta. Vì vậy, đi bỏ phiếu trong cuộc tổng tuyển cử vừa là quyền lợi quý báu, vừa là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi người cử tri”.

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa III tổ chức ngày 26 tháng 4 năm 1964 trên toàn miền Bắc, cả ở tuyến đầu Vĩnh Linh, được toàn thể Nhân dân nhiệt liệt tham gia và đã diễn ra trong không khí phấn khởi, trật tự. Nhân dân biểu thị rõ rệt tinh thần làm chủ và ý thức trách nhiệm của mình trong việc lựa chọn và bầu những đại biểu xứng đáng vào cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước. Quốc hội khóa III có 455 đại biểu, trong đó có 366 đại biểu được bầu và 89 đại biểu khóa I thuộc các tỉnh miền Nam vĩ tuyến 17 được kéo dài nhiệm kỳ. Các đại biểu thay mặt Nhân dân cả nước phấn đấu để xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, hòa bình, dân chủ và giàu mạnh.

TỔNG TUYỂN CỬ NĂM 1976 BẦU QUỐC HỘI THỐNG NHẤT TOÀN QUỐC

Bối cảnh cuộc bầu Quốc hội thống nhất cả nước: Khi miền Nam giải phóng, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đang là nhiệm kỳ khóa V mới được cử tri bầu ngày 6 tháng 4 năm 1975, họp kỳ đầu tiên vào đầu tháng 6 năm 1975 đã bầu và phê chuẩn bộ máy nhà nước Việt nam dân chủ cộng hòa. Nhưng sau ngày giải phóng, hai miền vẫn tồn tại hai nhà nước với hai Chính phủ: Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Vấn đề cấp bách trước mắt là phải thực hiện thống nhất về mặt nhà nước. Trung ương Đảng lao động Việt Nam đã vạch ra phương hướng tiến lên của cách mạng Việt nam là “Hoàn thành thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 24 Ban chấp hành trung ương Đảng lao động Việt Nam). Quốc hội thống nhất sẽ thực hiện việc bầu và phê chuẩn bộ máy nhà nước Việt Nam thống nhất.

Ngày 15 tháng 11 năm 1975, đại biểu nhân dân hai miền đã họp Hội nghị hiệp thương chính trị để thống nhất thời gian, cách thức tổ chức tổng tuyển cử bầu Quốc hội là sẽ tiến hành cùng một ngày trong cả nước và theo nguyên tắc: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Quốc hội sẽ xác định thể chế Nhà nước, bầu ra các cơ quan lãnh đạo của nhà nước và quy định Hiến pháp của nước Việt Nam thống nhất.

Các cơ quan phụ trách bầu cử: Trong điều kiện chưa có Luật bầu cử hoàn chỉnh áp dụng cho cả nước, và thực tế bối cảnh chính trị - xã hội hai miền còn những khác biệt, Hội nghị hiệp thương chính trị thống nhất Tổ quốc đã nhất trí: Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Việt nam dân chủ cộng hòa và Hội đồng cố vấn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt nam mỗi bên cử ra 11 người để thành lập Hội đồng bầu cử toàn quốc. Hội đồng bầu cử toàn quốc phụ trách việc bầu cử trong cả nước có nhiệm vụ giám sát việc bỏ phiếu, tổng kết công tác bầu cử, cấp giấy chứng nhận cho những người trúng cử và báo cáo kết quả cuộc tổng tuyển cử trước Quốc hội khóa VI (tại kỳ họp thứ nhất).

Ở miền Bắc, cơ quan chủ trì cuộc bầu cử là Ủy ban thường vụ Quốc hội; ở miền Nam, cơ quan chủ trì cuộc bầu cử là Hội đồng cố vấn Chính phủ. Ở mỗi miền, cơ quan chủ trì cuộc bầu cử có quyền và trách nhiệm cử ra Hội đồng bầu cử miền để phụ trách việc bầu cử của miền. Riêng tỉnh Bình - Trị - Thiên là tỉnh có một phần ở miền Bắc, một phần ở miền Nam nên do cả hai miền cùng phụ trách dưới sự chỉ đạo của Hội đồng bầu cử toàn quốc.

Đơn vị bầu cử là tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Những tỉnh, thành phố lớn, đông dân được bầu nhiều đại biểu thì có thể chia thành nhiều khu vực bầu cử. Số đại biểu của từng đơn vị bầu cử do cơ quan chủ trì bầu cử ở mỗi miền quy định. Đây là những điểm phù hợp với tình hình thực tế của giai đoạn cách mạng lúc bấy giờ. Tổng số đại biểu Quốc hội cả nước được Hội đồng bầu cử toàn quốc ấn định là không quá 500 người. Theo thống kê dân số, miền Bắc có 24 triệu dân, miền Nam có khoảng 20 triệu dân. Hội đồng bầu cử miền đã giúp cơ quan chủ trì việc bầu cử miền trong việc nghiên cứu và quy định các vấn đề cụ thể xuất phát từ đặc điểm của miền Nam mới giải phóng, chính quyền nhân dân đang được củng cố.

Công tác tuyên truyền và bảo đảm an ninh về bầu cử: Từ tháng 2 năm 1976, công tác tuyên truyền, vận động nhân dân đã được triển khai trong cả nước. Báo chí, đài phát thành, đài truyền hình đều coi tổng tuyển cử là công tác trọng tâm. Ngày đó đài phát thanh là chính, báo giấy cũng không có nhiều như sau này, còn vô tuyến truyền hình thì rất hạn chế về thời lượng, mỗi ngày Đài truyền hình trung ương mới chỉ phát sóng 1 lần vào khung giờ duy nhất từ 19 giờ đến 21 giờ tối, đa số các cơ quan, gia đình chưa có vô tuyến. Các đội tuyên truyền lưu động dùng loa phát thanh đến tận các khu dân cư, ngõ ngách, công trường, …Các hình thức, công cụ tuyên truyền rất thủ công, đơn giản nhưng vô cùng phù hợp, hiệu quả. Cán bộ làm công tác bầu cử và cán bộ các ngành có liên quan đã dự các lớp tập huấn về chuyên môn, luật lệ bầu cử và mục đích, ý nghĩa, nội dung công tác bầu cử Quốc hội. Đông đảo quần chúng nhân dân từ thành thị đến nông thôn, từ miền núi đến hải đảo đã hăng hái tham gia học tập, tìm hiểu thể lệ bầu cử. Nhiều đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân đạt 100% số người tham gia. Ở miền Nam, các nhân sỹ, trí thức, nhà tu cùng các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, công nông đều tự giác, tích cực tìm hiểu, thảo luận về bầu cử Quốc hội.

Ở vùng mới giải phóng miền Nam, tình hình xã hội còn phức tạp, các thế lực thù địch, phản động có chủ trương phá hoại cuộc bầu cử. Cùng với lực lượng vũ trang, quần chúng nhân dân đã tham gia đắc lực vào việc giữ vững trật tự, an ninh nên mọi âm mưu của chúng đã bị phát hiện, ngăn ngừa, không để xảy ra vụ phá hoại nào đáng kể. Việc khôi phục quyền công dân những người yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tăng cường đoàn kết trong Mặt trận dân tộc thống nhất do Đảng lãnh đạo, để họ sử dụng đúng đắn lá phiếu - quyền công dân của mình hăng hái đi bầu cử đại biểu Quốc hội thống nhất của cả nước. Từ giữa tháng 4 năm 1976, các cấp ủy Đảng, các tổ chức phụ trách bầu cử, các đoàn thể quần chúng, trong phạm vi trách nhiệm của mình đã đến các cơ sở kiểm tra việc chuẩn bị tổng tuyển cử. Công tác bảo đảm trật tự, an toàn, an ninh cho cuộc bầu cử cũng được tăng cường, nhân dân và lực lượng thanh niên đóng góp nhiều công sức quý báu, không có sự cố đáng kể.

Những người ứng cử đại biểu Quốc hội: Việc giới thiệu những người ra ứng cử đã được tiến hành một cách thật sự dân chủ. Mặt trận dân tộc thống nhất cùng với các đoàn thể quần chúng đóng vai trò rất quan trọng: những người ra ứng cử ở miền Bắc đều do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu, ở miền Nam đều do Ủy ban Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt nam và Ủy ban liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam giới thiệu. Danh sách những người ra ứng cử đã được các tổ chức quần chúng ở cơ sở thảo luận, cân nhắc kỹ trước khi đưa lên Mặt trận dân tộc thống nhất hiệp thương và chính thức giới thiệu. Cả nước có 605 người ra ứng cử là những người tiêu biểu, bao gồm các nhà hoạt động cách mạng, các đại biểu công nhân, nông dân, quân nhân cách mạng, trí thức, văn nghệ sỹ, sinh viên, tư sản dân tộc, đại biểu các dân tộc, các tôn giáo,… Danh sách đó thực sự là hình ảnh của khối đại đoàn kết toàn dân dựa trên cơ sở liên minh công - nông - binh gồm những người có nhiều thành tích trong sản xuất, công tác và chiến đấu. Ở miền Nam, theo tiêu chuẩn cụ thể của Pháp lệnh bầu cử Quốc hội, đó là những người yêu nước có thành tích chống đế quốc Mỹ và tay sai, tán thành thống nhất Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội.

Những cuộc tiếp xúc giữa ứng cử viên và cử tri được tổ chức ở các đơn vị bầu cử và khu vực bầu cử. Tiểu sử ứng cử viên được đưa đến tận xóm, ấp, bản làng, đơn vị, cơ sở sản xuất, “ tổ nhân dân”, “ tổ đoàn kết”, cho cử tri tìm hiểu, trao đổi giúp họ chủ động lựa chọn đại biểu Quốc hội.

Tình hình và kết quả bầu cử Quốc hội: Ngày 25 tháng 4 năm 1976 đã thật sự là ngày hội lớn của toàn dân ta. Hơn 23 triệu cử tri, với tư thế người làm chủ đất nước đã nô nức đi làm nghĩa vụ công dân của mình, bầu những đại biểu xứng đáng vào cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Tỷ lệ chung cử tri đi bầu cử là 98,77%. Nhiều đơn vị lực lượng vũ trang đạt 100% quân số đi bầu; một số địa phương đạt trên 99% số cử tri đi bầu cử.

Cả nước đã bầu đủ 492 đại biểu ngay ở vòng đầu, không nơi nào phải bầu lại hoặc bầu thêm. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước được bầu với số phiếu cao nhất. Trong đó 16,26% là công nhân; 20,33% là nông dân; 28,66% là cán bộ chính trị; 10,97% là quân nhân cách mạng; 18,50% là trí thức; 4,06% là nhân sỹ dân chủ và tôn giáo; có 26,21% là phụ nữ; 14,28% là người các dân tộc thiểu số. Ở vùng mới giải phóng miền Nam, nhiều người là công nhân, nông dân lao động bình thường nhưng có thành tích xuất sắc, có uy tín cao đã được bầu vào Quốc hội; nhiều nhân sỹ, trí thức yêu nước được Ủy ban Mặt trận dân tộc giải phóng miền nam Việt Nam và Ủy ban liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam giới thiệu đã đắc cử. Với thành phần như vậy, Quốc hội khóa VI là Quốc hội thống nhất cả nước, là hình ảnh của khối đại đoàn kết toàn dân, dựa trên cơ sở liên minh công nông do Đảng lãnh đạo.

Quốc hội bầu và phê chuẩn bộ máy Nhà nước Việt Nam thống nhất: Quốc hội chung cả nước đã họp phiên đầu tiên từ ngày 24 tháng 6 đến ngày 3 tháng 7 năm 1976. Ủy ban thẩm tra tư cách đại biểu đã báo cáo Quốc hội và xác nhận 492 người trúng cử đủ tư cách đại biểu Quốc hội khóa VI, nhiệm kỳ 1976 - 1981. Tại phiên họp quan trọng và đầy ý nghĩa này, Quốc hội đã bầu, phê chuẩn các chức danh, các cơ quan của bộ máy Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa độc lập, thống nhất. Cụ Tôn Đức Thắng được bầu làm Chủ tịch nước, ông Nguyễn Lương Bằng được bầu làm Phó Chủ tịch nước. Ông Trường Chinh được bầu làm Chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội. Có 7 Phó Chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội, 13 Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội và 2 Ủy viên dự khuyết. Quốc hội bầu 7 Ủy ban chuyên môn. So với khóa V thì Quốc hội khóa VI không có Ủy ban thống nhất, mà có Ủy ban Dự thảo Hiến pháp để thực hiện việc xây dựng Hiến pháp mới cho nước Việt Nam thống nhất. Ông Phạm Văn Đồng được bầu làm Thủ tướng Chính phủ. Có 7 Phó Thủ tướng và các Bộ trưởng. Cơ quan hành pháp được Quốc hội phê chuẩn có 34 Bộ và cơ quan ngang Bộ. Ông Phạm Văn Bạch được bầu làm Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Ông Trần Hữu Dực được bầu làm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Thắng lợi to lớn của tổng tuyển cử ngày 25 tháng 4 năm 1976 là thắng lợi của toàn dân ta quyết tâm khắc phục khó khăn, xây dựng thành công một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội. Qua tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội chung cả nước, Nhân dân hai miền cùng khẳng định trước thế giới một ý chí quyết tâm thống nhất Tổ quốc, thống nhất Nhà nước để tiến lên chủ nghĩa xã hội.

*

* *

Quốc hội Việt Nam trải qua 15 nhiệm kỳ với 80 năm hoạt động, có nhiều đổi mới phù hợp từng giai đoạn cách mạng. Với vai trò là người sáng lập đảng và khởi xướng thành lập Quốc hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều tâm huyết vào việc xây dựng Quốc hội của dân, do dân và vì dân. Trong tư tưởng của Người, Quốc hội luôn luôn là một thiết chế dân chủ để thông qua đó, Nhân dân thực hiện quyền lực của mình. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ chức và hoạt động của Quốc hội chúng ta có thể thấy rằng: để đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, phát triển kinh tế - xã hội thì cần phải đổi mới toàn diện từ việc tổ chức bầu cử, lựa chọn người ứng cử đại biểu Quốc hội cho đến việc tổ chức thực hiện các chức năng của Quốc hội.

Nguyễn Nhân Tỏ