5 điểm cốt lõi trong phương án điều chỉnh Quy hoạch lâm nghiệp đến năm 2030

Theo Quyết định số 2018/QĐ-TTg ngày 21/10 do Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch lâm nghiệp thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (có hiệu lực từ ngày ký), tổng diện tích đất quy hoạch lâm nghiệp đến năm 2030 của cả nước sẽ còn khoảng 15,55 triệu ha. So với quy hoạch phê duyệt năm 2024, tổng diện tích này đã giảm 298.010 ha.

rung-100647-879-102959-1792918999.webp

Khu rừng Kẻ Gỗ thuộc tỉnh Hà Tĩnh. Ảnh: Thanh Nga.

Sự thay đổi diện tích diễn ra chủ yếu ở nhóm đất rừng sản xuất và đất rừng phòng hộ, lần lượt giảm 182.820 ha (xuống khoảng 7,981 triệu ha) và 145.040 ha (xuống khoảng 5,085 triệu ha) — đây cũng là hai nhóm ghi nhận mức giảm lớn nhất với tổng cộng 327.860 ha. Trái lại, diện tích đất rừng đặc dụng lại được điều chỉnh tăng 29.850 ha, nâng tổng số lên khoảng 2,485 triệu ha, qua đó kéo giảm mức bù trừ chênh lệch chung của quy hoạch.

Cần lưu ý rằng, con số giảm gần 300.000 ha nêu trên phản ánh sự chênh lệch giữa hai phương án quy hoạch tính đến năm 2030, bao gồm cả đất có rừng và đất chưa có rừng, chứ không phải là diện tích rừng thực tế bị mất đi. Cụ thể, xét theo chỉ tiêu quy hoạch đến năm 2030, diện tích đất có rừng được điều chỉnh giảm 621.880 ha (xuống còn 14,075 triệu ha), trong khi đất chưa có rừng tăng thêm 323.880 ha (lên khoảng 1,476 triệu ha). Tuy nhiên, nếu so sánh trực tiếp với hiện trạng năm 2025, tổng diện tích đất quy hoạch lâm nghiệp đến năm 2030 chỉ giảm nhẹ 24.490 ha, còn thực tế diện tích đất có rừng trong quy hoạch lại tăng thêm khoảng 166.480 ha.

Về mặt phân bố không gian, vùng Trung du và miền núi phía Bắc tiếp tục nắm giữ diện tích đất quy hoạch lâm nghiệp lớn nhất cả nước với khoảng 5,763 triệu ha. Tiếp sau là vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên (khoảng 5,151 triệu ha) và Bắc Trung Bộ (khoảng 3,285 triệu ha). Phần diện tích còn lại phân bổ tại Đồng bằng sông Hồng (khoảng 610.410 ha), Đông Nam Bộ (khoảng 479.340 ha) và Đồng bằng sông Cửu Long (khoảng 261.830 ha). Ở cấp độ địa phương, một số tỉnh sở hữu diện tích đất lâm nghiệp lớn gồm có Lâm Đồng (khoảng 1,146 triệu ha), Nghệ An (khoảng 1,137 triệu ha), Gia Lai (khoảng 1,078 triệu ha) và Tuyên Quang (khoảng 945.020 ha).

Nhằm hướng tới mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, giai đoạn 2026-2030 đặt mục tiêu trồng mới từ 1,25 đến 1,5 triệu ha rừng (trung bình 250.000–300.000 ha/năm) và thực hiện khoanh nuôi xúc tiến tái sinh 500.000 ha rừng. Các định hướng này hướng đến việc duy trì ổn định tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc ở mức 42%, đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng rừng tự nhiên hiện có.

Bên cạnh việc phân bổ quy hoạch mới, Chính phủ yêu cầu quản lý nghiêm ngặt đối với diện tích rừng bị điều chỉnh ra ngoài quy hoạch hoặc chuyển đổi giữa các loại rừng. Tất cả các diện tích này phải tiếp tục được bảo vệ theo chế độ áp dụng cho loại rừng trước điều chỉnh cho đến khi cấp có thẩm quyền ban hành quyết định chính thức về việc chuyển mục đích sử dụng hoặc chuyển đổi loại rừng. UBND các tỉnh, thành phố có trách nhiệm phối hợp thực hiện việc phân vùng, lập bản đồ chi tiết, cắm mốc ranh giới rõ ràng ngoài thực địa giữa các loại rừng và theo từng chủ quản lý. Hằng năm, các địa phương phải công khai diện tích rừng và rà soát, cập nhật đồng bộ các kế hoạch, dự án phát triển trên địa bàn với phương án điều chỉnh quy hoạch mới.

Đối với phần diện tích rừng và đất lâm nghiệp đang giao tạm thời cho UBND cấp xã quản lý, Quyết định 2018 đặt ra mốc hạn định đến năm 2030 phải hoàn thành triệt để công tác giao rừng gắn liền với giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng dân cư. Nhà nước sẽ ưu tiên nguồn lực đầu tư cho các hoạt động giao rừng, cắm mốc và phân định ranh giới.

Về tiến độ triển khai, trong thời hạn 30 ngày kể từ khi điều chỉnh quy hoạch được phê duyệt, Bộ Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm bàn giao sơ đồ quy hoạch cho các địa phương, đồng thời công khai thông tin và cập nhật dữ liệu lên Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia về quy hoạch.