Thú chơi cá cảnh: Hành trình từ biểu tượng xa xỉ đến thú vui bình dân

Thú chơi cá cảnh đã tồn tại từ hàng ngàn năm trước, một thú vui tao nhã không chỉ dành riêng cho giới thượng lưu mà còn đi vào cuộc sống bình dị của người dân hiện đại. Nó không chỉ là cách để ngắm nhìn vẻ đẹp của những loài cá mà còn phản ánh một phần văn hóa, lịch sử và sự gắn bó của con người với thiên nhiên.

Nguồn gốc của thú chơi cá cảnh

Thú chơi cá cảnh: Thú vui tao nhã từ giới thượng lưu xưa đến đại chúng hiện đại
Một góc của khu vườn thượng uyển Chuyết Chính Viên, một trong những vườn thượng uyển đẹp nhất Trung Quốc. Ảnh: Sohu

Thú nuôi chơi và thưởng ngoạn cá cảnh có một lịch sử lâu đời trên thế giới. Ngay cả trước khi các vua chúa Trung Hoa nuôi cá, hoạt động nuôi trữ cá thịt đã xuất hiện ít nhất từ 4.500 năm về trước ở Ai Cập và Assyria. Điều này cho thấy sự gắn bó của con người với các loài cá đã có từ rất sớm.

Trong các loài cá cảnh, cá chép được ghi nhận là loài có lịch sử nuôi lâu đời nhất, từ 2000 năm trước công nguyên ở Trung Hoa. Chính Trung Hoa cũng là nơi đầu tiên sinh sản nhân tạo cá thành công và là chiếc nôi của hoạt động chọn lọc và lai tạo cá vàng và cá chép làm cảnh. Từ đó, thú chơi cá cảnh phát triển rực rỡ trong cung đình, với các vua chúa Trung Hoa đã nuôi giữ cá chép và cá vàng làm cảnh, coi đó là biểu tượng của sự may mắn, thịnh vượng. Sau này, người Nhật đã học kỹ thuật chọn giống cá vàng và chép từ Trung Hoa, rồi phát triển và tạo nên thương hiệu “cá chép Nhật” (Koi) nổi tiếng toàn cầu.

Thú chơi cá cảnh: Hành trình từ biểu tượng xa xỉ đến thú vui bình dân
Người Nhật đã học kỹ thuật chọn giống cá vàng và chép từ Trung Hoa, rồi phát triển và tạo nên thương hiệu “cá chép Nhật” (Koi) nổi tiếng toàn cầu.

Tuy nhiên, thú nuôi chơi cá cảnh chỉ thực sự trở nên phổ biến và có tính chất đại chúng trong khoảng 200 năm trở lại đây, đi cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội và sự gia tăng nhu cầu về mặt tinh thần của con người.

Điển tích vua chúa Việt Nam với thú chơi cá cảnh

Trong lịch sử Việt Nam, dù không có nhiều ghi chép cụ thể về việc các vị vua trực tiếp "chơi" cá cảnh theo cách hiện đại, nhưng qua các tài liệu về cung điện, vườn ngự uyển, chúng ta có thể thấy sự hiện diện của các hồ nước, ao sen, nơi các loài cá bản địa sinh sống. Điều này thể hiện sự yêu thích và mong muốn hòa mình vào thiên nhiên của các bậc đế vương.

Ví dụ, dưới thời nhà Lý và nhà Trần, các vị vua thường cho xây dựng những quần thể cung điện nguy nga với hồ nước, ao sen bao quanh. Đặc biệt, Kinh đô Thăng Long được thiết kế hài hòa với hệ thống sông hồ tự nhiên, như Hồ Tây, hồ Gươm, và các ao hồ trong hoàng thành. Các hồ này không chỉ có vai trò điều hòa không khí, tạo cảnh quan mà còn là nơi sinh sống của các loài thủy sinh, trong đó có cá. Các vị vua có thể đã dành thời gian ngắm nhìn những đàn cá bơi lội trong hồ sen, tìm thấy sự thư thái và cảm hứng. Đây không chỉ là một thú vui tao nhã mà còn là cách để các vị vua thể hiện sự gần gũi với thiên nhiên, với non sông đất nước.

Thú chơi cá cảnh: Thú vui tao nhã từ giới thượng lưu xưa đến đại chúng hiện đại
Cụ rùa nổi ở hồ Gươm. Ảnh: ĐSPL

Một điển tích thú vị khác tuy không trực tiếp nói về việc "nuôi cá cảnh" nhưng lại cho thấy sự gắn bó với cá trong văn hóa cung đình là câu chuyện về Hồ Vua Lê (Hồ Gươm ngày nay) với truyền thuyết Rùa Vàng trả gươm báu. Dù là truyền thuyết, nhưng nó phản ánh hình ảnh một hồ nước lớn trong kinh đô, nơi có các loài thủy sinh quý hiếm như rùa, và chắc chắn là cả các loài cá. Các vị vua, đặc biệt là Lê Lợi, đã từng tương tác với không gian này, cho thấy sự hòa quyện giữa đời sống hoàng gia và thế giới tự nhiên dưới nước.

Cuộc cách mạng bể kính và sự du nhập cá nhiệt đới

Trong lịch sử nuôi chơi cá cảnh, có lẽ sự xuất hiện của chiếc bể kính là cuộc cách mạng thật sự, tạo bước ngoặt lớn đưa cá cảnh trở nên phổ biến và đại chúng hơn. Cá cảnh được nuôi thả trong bể kính từ những năm 1750 ở Anh. Tuy nhiên, gần 100 năm sau đó, hình thức nuôi này vẫn gặp nhiều khó khăn do những hạn chế về kiến thức và sự hiểu biết về cách thức quản lý chất lượng nước và duy trì cân bằng cây – cá và khí ôxy.

Thú chơi cá cảnh: Thú vui tao nhã từ giới thượng lưu xưa đến đại chúng hiện đại
Cá cảnh được nuôi thả trong bể kính từ những năm 1750 ở Anh.

Phải đến giai đoạn từ 1836 đến 1850, các bể kính trưng bày cá cảnh mới xuất hiện thường xuyên hơn ở châu Âu. Đáng chú ý là thời kỳ này, các bể kính phần nhiều trưng bày cá cảnh biển, có lẽ do sự hạn chế về chủng loại của cá cảnh nước ngọt thời bấy giờ. Vào năm 1853, bể cá cảnh công cộng đầu tiên được khánh thành ở Sở thú Luân Đôn, với tên gọi là “nhà cá” (Fish House). Thuật ngữ “bể cá cảnh” (Aquarium) chính thức được Philip Henry Gosse sử dụng lần đầu tiên trong quyển sách “The Aquarium: An Unveiling of the Wonders of the Deep Sea”, đánh dấu một cột mốc quan trọng.

Lịch sử cá cảnh nước ngọt sau đó lại bắt nguồn từ khu hệ cá nhiệt đới, chủ yếu ở Nam Mỹ, Đông Nam Á, châu Phi… Quyển sách cá cảnh nước ngọt đầu tiên được ghi nhận là của tác giả Chang Chien Tei viết về cá vàng vào khoảng năm 1618 tại Trung Quốc. Cá cảnh nước ngọt nhiệt đới chính thức du nhập vào châu Âu vào khoảng năm 1868 khi Carbonier mang cá đuôi cờ (cá thiên đường) từ vùng Đông Nam Á về Pháp nuôi làm cảnh. Các nước phương Tây sau đó không chỉ nuôi chơi mà còn nghiên cứu sinh sản, lai tạo thành công nhiều loài cá cảnh nước ngọt nhiệt đới như cá ông tiên (cá thần tiên), cá đĩa (cá ngũ sắc thần tiên), xiêm, ngựa vằn... góp phần làm phong phú hóa nguồn cung và đưa cá cảnh nước ngọt trở nên phổ biến như ngày nay.

Thú chơi cá cảnh ở Việt Nam phổ biến từ khi nào?

Ở Việt Nam, thú nuôi chơi cá cảnh được ghi nhận có lịch sử trong khoảng hơn 100 năm trở lại. Vào thời kỳ trước 1945, theo nghệ nhân Võ Văn Sanh, ở Sài Gòn đã hình thành ba khu vực bán cá cảnh sôi động: Lưu Xuân Tín, Trần Hòa và Chợ Cũ.

Thú chơi cá cảnh: Thú vui tao nhã từ giới thượng lưu xưa đến đại chúng hiện đại
Một góc chợ cá cảnh Lưu Xuân Tín (TP.HCM). Ảnh: Oanh Trần

Ngày nay, chợ cá cảnh Lưu Xuân Tín vẫn còn là chợ đầu mối cá cảnh lớn nhất và lâu đời nhất ở Việt Nam, duy trì nét văn hóa và sự nhộn nhịp của nó. Trong khi đó, khu vực Trần Hòa và Chợ Cũ chỉ còn trong ký ức của những người yêu cá cảnh lâu năm. Trong quá trình phát triển, TP.HCM có thêm khu chợ cá Nguyễn Thông hình thành vào thập niên 80 và khu chợ cá đường Cộng Hòa hình thành vào cuối thập niên 90.

Thú chơi cá cảnh: Thú vui tao nhã từ giới thượng lưu xưa đến đại chúng hiện đại

Chợ nằm trên con đường đặc biệt Lưu Xuân Tín - Giáp với đường Trần Hưng Đạo - Nơi mệnh danh là một trong những chợ cá cảnh lâu đời nhất Sài Gòn.

Thú chơi cá cảnh: Thú vui tao nhã từ giới thượng lưu xưa đến đại chúng hiện đại

Tại đây phổ biến nhất là cá bảy màu, cá ba đuôi, cá bình tích, cá ông tiên… và ngay cả những loại cá đắt tiền và quý hiếm hơn như cá rồng, cá đĩa, cá hồng két, cá la hán…cũng dễ dàng được tìm thấy tại đây .

Ngày nay, các cửa hàng cá cảnh đã rải đều trên khắp các tỉnh thành ở Việt Nam, đưa lịch sử cá cảnh nước nhà bước vào thời kỳ phát triển mới, chứng tỏ sức hút bền bỉ của thú chơi này trong đời sống hiện đại.

Lê Anh (Tổng hợp)