Buổi sáng ở xã Gia Lâm (tỉnh Ninh Bình), sương còn đọng trên tán lá. Những bông trà hoa vàng nở lặng lẽ giữa khu vườn nằm sát vùng đệm Cúc Phương. Ít ai biết, phía sau vẻ yên ả ấy là một hệ thống bảo tồn được duy trì hoàn toàn từ doanh thu sản phẩm thương mại – điều hiếm thấy với các loài dược liệu quý đang suy giảm ngoài tự nhiên.
![]() |
| Tiến sĩ Vũ Văn Tâm, Chủ tịch Công ty TNHH Dược liệu Vũ Gia - đơn vị quản lý Công viên Trà hoa vàng Ninh Bình. Ảnh: Thu Trang/ Nông nghiệp và Môi trường. |
Theo TS Vũ Văn Tâm, Chủ tịch Công ty TNHH Dược liệu Vũ Gia – đơn vị quản lý Công viên Trà hoa vàng Ninh Bình, cơ duyên đến với loài cây này bắt đầu trong một chuyến điền dã nhiều năm trước. Khi được người dân mời uống thứ nước “không đắng, không thơm nồng, nhưng thanh và mát”, ông chưa nghĩ đó sẽ là khởi đầu cho một hành trình dài.
Chỉ đến khi tận mắt chứng kiến trà hoa vàng bị thu mua theo cách đào cả gốc lẫn rễ, ông mới thực sự lo ngại. “Người ta không lấy hoa, không lấy lá mà lấy luôn cây. Khai thác như vậy thì rừng không thể phục hồi”, ông nói. Nhiều quần thể trà hoa vàng trong tự nhiên, theo ông, đã thưa đi nhanh chóng, không kịp tái sinh.
Từ nỗi lo mất giống, nhóm nghiên cứu của ông Tâm bắt đầu sưu tầm những cá thể còn sót lại, đưa về trồng, theo dõi và nhân giống có kiểm soát. Công viên Trà hoa vàng hình thành như một cách “neo lại” nguồn gen trước nguy cơ biến mất.
“Nếu không giữ từ bây giờ, sau này muốn nghiên cứu cũng không còn cây để nghiên cứu”, TS Tâm nói.
![]() |
Nếu TS Vũ Văn Tâm là người khởi xướng, thì thạc sĩ Phạm Tiến Duật – Phó giám đốc công ty – là người gắn bó với công việc bảo tồn mỗi ngày. Anh có mặt từ sớm tại khu ươm, theo dõi từng mầm cây, bộ rễ, phản ứng của trà hoa vàng trước sự thay đổi của đất, nước và thời tiết.
Theo anh Duật, trà hoa vàng là loài nhạy cảm. “Chỉ cần vội một khâu, cây vẫn sống nhưng đã khác đi. Mà khác rồi thì không còn ý nghĩa bảo tồn”, anh nói.
Tại công viên, mỗi cây được theo dõi riêng biệt từ khi còn là hom giống đến lúc ra hoa, kết quả. Dữ liệu sinh trưởng được ghi chép liên tục, tạo nền tảng cho nghiên cứu lâu dài, không chỉ phục vụ sản xuất.
![]() |
![]() |
Ngay từ đầu, những người xây dựng công viên đã xác định: nếu không giải được bài toán kinh tế, bảo tồn sẽ khó đi đường dài. Câu hỏi không chỉ là trồng được hay không, mà là trồng thế nào cho đúng và đưa sản phẩm ra thị trường ra sao.
Thách thức lớn nhất nằm ở khâu chế biến. Hoa trà hoa vàng rất mỏng, nhiều nước, dễ biến dạng và đổi màu sau thu hái. Sau nhiều thử nghiệm, công nghệ sấy thăng hoa được lựa chọn và lần đầu áp dụng cho trà hoa vàng tại Việt Nam.
Kết quả là những bông hoa sau sấy vẫn giữ gần như nguyên vẹn hình dáng, sắc vàng tươi, cấu trúc không vỡ. Một công đoạn kỹ thuật tưởng chừng bất khả thi đã mở đường cho việc thương mại hóa mà không làm tổn hại giá trị tự nhiên của loài cây.
Từ đó, các sản phẩm trà hoa vàng được phát triển theo hướng thận trọng, có kiểm soát. Đến nay, sản phẩm của Công ty TNHH Dược liệu Vũ Gia đã đạt OCOP 4 sao.
![]() |
Với những người làm công viên, OCOP không chỉ là danh hiệu. Doanh thu từ sản phẩm được quay trở lại nuôi dưỡng chính khu bảo tồn – từ sưu tập giống, mở rộng diện tích trồng đến duy trì đội ngũ kỹ thuật gắn bó lâu dài.
Giá trị lớn nhất của Công viên Trà hoa vàng Ninh Bình không nằm ở diện tích hay sản lượng. Đó là cách bảo tồn được thực hiện bằng chính giá trị kinh tế mà thiên nhiên tạo ra. Giữa vùng đệm Cúc Phương, trà hoa vàng không chỉ được trồng để bán, mà được giữ lại như một “ngân hàng gen sống”, nơi một loài cây quý có thêm thời gian tồn tại.




