Hiểu đúng CITES để khơi thông nguồn lực cho ngành Hoa – Cây cảnh Việt Nam

Thời gian qua, một số doanh nghiệp thuộc Hiệp hội Hoa Đà Lạt đã gặp phải những khó khăn khi nhập khẩu những lô hàng hoa Lan Hồ điệp nhập khẩu có nguồn gốc lai tạo vì một số cách hiểu liên quan tới CITES của cơ quan quản lý.

Thời gian qua, một số doanh nghiệp thuộc Hiệp hội Hoa Đà Lạt đã gặp phải những khó khăn khi nhập khẩu những lô hàng hoa Lan Hồ điệp nhập khẩu có nguồn gốc lai tạo vì một số cách hiểu liên quan tới CITES của cơ quan quản lý.

aa

 

Hiệp hội Hoa Đà Lạt tiếp nhận nhiều ý kiến của hội viên, đơn vị tổ chức sản xuất hoa lan Hồ điệp giống lai tạo (Phalaenopsis Hybrid) gặp khó khăn trong thực hiện việc nhập khẩu giống hoa lai tạo từ các nước Đài Loan, Trung Quốc, Hà Lan để sản xuất đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu như Công ty CP Nông Nghiệp THT, Công ty TNHH TMDV Hoa Kim Ngọc, Công ty TNHH FuSheng… do liên quan đến việc quy định cấp chứng nhận cơ sở nuôi trồng động thực vật hoang dã để được cấp giấy chứng nhận CITES (Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) là một thỏa thuận quốc tế giữa các chính phủ) nhập khẩu. Điều này, theo Hiệp hội Hoa Đà Lạt là không đúng theo quy định của thông lệ quốc tế tại thông báo số 2023/015 ngày 10/02/2023 của Ban thư ký CITES thế giới về các nước hội nghị thành viên CITES (COP19) và phụ lục ban hành kèm theo thông báo số 2337/TB-BNNMT ngày 13/3/2026.

Theo Hiệp hội Hoa Đà Lạt, Việt Nam có nguồn tài nguyên thực vật và đa dạng sinh học phong phú, trong đó nhiều loài hoa, lan, cây cảnh và cây lá trang trí bản địa có giá trị cao về khoa học, thẩm mỹ và kinh tế.

Vấn đề đặt ra hiện nay không chỉ là bảo tồn mà còn cần xây dựng cơ chế để bảo tồn gắn với nghiên cứu, khai thác hợp pháp nguồn gen, nhân giống nhân tạo, lai tạo giống mới và thương mại hóa bền vững. Đây cũng chính là tinh thần cần được nhìn nhận đầy đủ khi thực thi Công ước CITES đối với ngành hoa, cây cảnh.

Cần hiểu đúng cơ chế miễn trừ CITES đối với hoa lan nhân giống nhân tạo. CITES là Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, với mục tiêu bảo đảm hoạt động thương mại quốc tế không đe dọa sự tồn tại của các loài trong tự nhiên. Đối với họ Lan (Orchidaceae), CITES có những quy định rất cụ thể để phân biệt giữa mẫu vật từ tự nhiên và sản phẩm được nhân giống nhân tạo.

Hiểu đúng CITES để khơi thông nguồn lực cho ngành Hoa – Cây cảnh Việt Nam

Các nhà kính trồng hoa lan Hồ điệp Phalaenopsis Hybid theo hướng công nghiệp tại Lâm Đồng.

Đặc biệt, quy định P3 xác định các mẫu vật lai được nhân giống nhân tạo thuộc bốn chi Cymbidium, Dendrobium, Phalaenopsis và Vanda không chịu sự điều chỉnh của Công ước khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện miễn trừ. Đối với cây chưa ra hoa, phải nhận biết rõ là cây nhân giống nhân tạo, không thể hiện dấu hiệu khai thác từ tự nhiên; đồng thời đáp ứng các yêu cầu về số lượng cây trong bao gói, độ đồng đều, tình trạng cây và chứng từ đi kèm.

Đối với cây đang ra hoa, CITES cũng quy định những điều kiện nhận diện và đóng gói riêng. Cây không chứng minh được rằng đáp ứng các điều kiện miễn trừ thì phải có chứng từ CITES phù hợp. Quy định này tiếp tục được thể hiện trong Phụ lục CITES có hiệu lực năm 2026. Đối với cây con hoặc mô nuôi cấy in vitro được vận chuyển trong vật đựng vô trùng, cơ chế P4 quy định mẫu vật không chịu sự điều chỉnh của Công ước nếu đáp ứng định nghĩa “nhân giống nhân tạo” đã được Hội nghị các quốc gia thành viên CITES thông qua (ACIR⁠).

Cần phân biệt “nguồn gốc nhân tạo” với “đủ điều kiện miễn trừ”

Thực tế cho thấy, đối với một số lô Lan Hồ điệp nhập khẩu, Cơ quan thẩm quyền CITES của nước xuất khẩu đã cấp giấy phép CITES, trên đó xác định tên hàng là Phalaenopsis hybrid, thuộc Phụ lục II và ghi mã nguồn “A – Artificially propagated”, tức mẫu vật có nguồn gốc nhân giống nhân tạo.

Đây là thông tin do chính Cơ quan thẩm quyền CITES của nước xuất khẩu xác nhận. Vì vậy, khi lô hàng nhập khẩu vào Việt Nam, chứng từ này cần được cơ quan chức năng xem xét đầy đủ trong quá trình xác định nguồn gốc của mẫu vật, tránh để doanh nghiệp phải chứng minh lặp lại những thông tin đã được cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu xác nhận.

Tuy nhiên, cần phân biệt rõ hai vấn đề pháp lý khác nhau:

Một là, cây có nguồn gốc nhân giống nhân tạo hay khai thác từ tự nhiên. Hai là, mặc dù là cây nhân giống nhân tạo, lô hàng đó có đáp ứng đầy đủ các điều kiện P3 hoặc P4 để được miễn trừ khỏi các quy định của CITES hay không. Một giấy phép ghi nguồn “A – Artificially propagated” là căn cứ quan trọng chứng minh nguồn gốc nhân tạo, nhưng không nên đồng nhất một cách máy móc với việc mọi lô hàng đều tự động thuộc diện miễn trừ P3/P4.

Ngược lại, khi lô hàng đã đáp ứng đầy đủ điều kiện miễn trừ của Công ước thì cũng cần được áp dụng đúng cơ chế miễn trừ. Đây chính là điểm cần được hướng dẫn thống nhất cho Hải quan, Kiểm lâm, Cơ quan CITES và doanh nghiệp.

Hiểu đúng CITES để khơi thông nguồn lực cho ngành Hoa – Cây cảnh Việt Nam

Lan Hồ điệp ra hoa trong nhà kính.

Từ thông báo 25 đến thực tiễn thực thi

Thông báo số 25/TB-CTVN ngày 17/02/2023 của Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam đã công bố Danh mục các loài động vật, thực vật thuộc Phụ lục CITES sau COP19. Đến năm 2026, danh mục sau COP20 tiếp tục duy trì cơ chế P3 đối với các mẫu vật lai nhân giống nhân tạo của bốn chi lan nêu trên.

Tuy nhiên, phản ánh của một số doanh nghiệp cho thấy việc nhận diện và áp dụng các trường hợp miễn trừ trong thực tế còn có lúc chưa thống nhất, dẫn đến doanh nghiệp phải bổ sung hồ sơ, giải trình hoặc thực hiện thêm thủ tục. Đối với cây giống sống, sự chậm trễ trong thông quan không chỉ làm tăng chi phí mà còn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cây giống và kế hoạch sản xuất.

Do đó, điều doanh nghiệp cần không phải là giảm nhẹ trách nhiệm bảo tồn, mà là một quy trình minh bạch, thống nhất và có thể dự đoán được: trường hợp nào phải có CITES, trường hợp nào thuộc P3, trường hợp nào thuộc P4 và doanh nghiệp cần xuất trình những chứng từ nào để chứng minh.

Bảo tồn nguồn gen phải đi cùng phát triển nguồn gen

Một vấn đề lớn hơn cần được đặt ra là Việt Nam đang sở hữu nguồn gen rất phong phú về hoa, lan, cây cảnh và cây lá trang trí bản địa. Chúng ta cần bảo vệ nghiêm các loài nguy cấp, quý, hiếm và ngăn chặn khai thác trái phép từ tự nhiên. Nhưng đồng thời cũng cần xây dựng một hành lang pháp lý rõ ràng để nguồn gen được tiếp cận hợp pháp cho nghiên cứu, bảo tồn chuyển vị, nuôi cấy mô, lai tạo và nhân giống nhân tạo.

Thay vì khai thác cây tự nhiên để bán trực tiếp, giá trị lớn hơn nhiều có thể được tạo ra bằng chuỗi: Nguồn gen hợp pháp → cây mẹ → bảo tồn nguồn gen → nuôi cấy in vitro → nhân giống nhân tạo → lai tạo giống mới → đăng ký và bảo hộ giống → sản xuất thương mại → xuất khẩu.

Một mẫu vật được thu nhận hợp pháp phục vụ khoa học, nếu được quản lý và truy xuất chặt chẽ, có thể trở thành nguồn vật liệu để nhân ra hàng trăm nghìn, thậm chí hàng triệu cây bằng công nghệ sinh học mà không tiếp tục tạo áp lực khai thác lên quần thể tự nhiên. Đó chính là điểm gặp nhau giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế.

Hướng tới trung tâm giống hoa, cây cảnh của khu vực và thế giới

Ngành Hoa – Cây cảnh Việt Nam cần chuyển dần từ mô hình “nhập giống – sản xuất – tiêu thụ” sang “bảo tồn nguồn gen – nghiên cứu – lai tạo – nhân giống – sản xuất – xây dựng thương hiệu – xuất khẩu”. Để làm được điều đó, cần có sự phối hợp giữa cơ quan CITES, Kiểm lâm, Trồng trọt, Bảo vệ thực vật, Hải quan, các viện – trường, địa phương, hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp. Trước mắt, cần hướng dẫn thống nhất việc thực hiện P3, P4; xây dựng quy trình nhận diện nhanh đối với cây lai nhân tạo và cây mô in vitro; đồng thời nghiên cứu cơ chế đăng ký, tiếp cận hợp pháp nguồn gen hoa – cây cảnh bản địa phục vụ khoa học, nuôi cấy mô và lai tạo giống.

Đặc biệt, Đà Lạt – Lâm Đồng, với điều kiện khí hậu, truyền thống sản xuất hoa, hệ thống doanh nghiệp và năng lực ứng dụng công nghệ cao, có nhiều điều kiện để trở thành một trung tâm nghiên cứu, lai tạo, nhân giống và sản xuất hoa – cây cảnh của Việt Nam và khu vực.

Tinh thần chung cần hướng tới là: Quản lý chặt nguồn khai thác từ tự nhiên – tạo điều kiện cho nguồn nhân giống nhân tạo hợp pháp. Bảo vệ nguồn gen – nhưng đồng thời tạo cơ chế để nghiên cứu và phát triển giá trị của nguồn gen.

Thực thi nghiêm CITES – nhưng cũng thực hiện đầy đủ những cơ chế miễn trừ mà chính Công ước đã quy định. Khi bảo tồn, khoa học công nghệ và thương mại hợp pháp cùng đi trên một con đường, nguồn tài nguyên sinh học phong phú của Việt Nam có thể trở thành nền tảng để ngành Hoa – Cây cảnh đa dạng hóa sản phẩm, chủ động nguồn giống, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và từng bước hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm nghiên cứu, lai tạo, nhân giống, sản xuất và cung ứng đa dạng hoa – cây cảnh – cây lá trang trí của thế giới.

Phan Thanh Sang – Chủ tịch Hiệp hội Hoa Đà Lạt