Văn phòng SPS Việt Nam cảnh báo 51 quy định mới có thể ảnh hưởng xuất khẩu nông, lâm, thủy sản

Hàng loạt quy định mới về mức dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kiểm dịch động thực vật và tiêu chuẩn an toàn thực phẩm vừa được các thị trường xuất khẩu lớn công bố. Đây là những thay đổi đáng lưu ý đối với doanh nghiệp xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam trong quá trình duy trì và mở rộng thị trường quốc tế.

Theo tổng hợp của Văn phòng SPS Việt Nam, từ ngày 01/7 - 15/7/2026, các nước thành viên WTO đã ban hành 51 thông báo về các biện pháp SPS, trong đó gồm 24 dự thảo và 27 văn bản quy phạm pháp luật đã có hiệu lực, có khả năng tác động đến các mặt hàng nông, lâm và thủy sản xuất khẩu của Việt Nam.

Văn phòng SPS Việt Nam cảnh báo 51 quy định mới có thể ảnh hưởng xuất khẩu nông, lâm, thủy sản
Văn phòng SPS Việt Nam, từ ngày 01/7 - 15/7/2026, các nước thành viên WTO đã ban hành 51 thông báo về các biện pháp SPS, trong đó gồm 24 dự thảo và 27 văn bản quy phạm pháp luật đã có hiệu lực, có khả năng tác động đến các mặt hàng nông, lâm và thủy sản xuất khẩu của Việt Nam. - (Ảnh minh họa)

Các thông báo tập trung vào nhiều lĩnh vực như mức dư lượng tối đa thuốc bảo vệ thực vật (MRL), kiểm dịch động thực vật, an toàn thực phẩm, phụ gia thức ăn chăn nuôi và quản lý các sản phẩm ứng dụng công nghệ mới. Trong đó, Liên minh châu Âu (EU) có 08 thông báo đáng chú ý, liên quan trực tiếp đến nhiều nhóm hàng nông sản xuất khẩu.

Đáng chú ý, tại Thông báo G/SPS/N/EU/963, EU đề xuất sửa đổi mức dư lượng tối đa của diazinon trong hoặc trên một số sản phẩm. Theo dự thảo, nhiều mức MRL được đề xuất hạ xuống giới hạn định lượng đối với các mặt hàng như hạnh nhân, nam việt quất, dứa, củ cải, hành tây, ớt chuông, ngô ngọt, cải thảo, su hào, hoa bia, gia vị từ hạt, cam thảo, nghệ và củ cải đường.

Đối với sản phẩm có nguồn gốc động vật, EU dự kiến hạ MRL đối với mỡ lợn, thịt xẻ và nội tạng ăn được khác của gia cầm, một số loại sữa, đồng thời điều chỉnh mức dư lượng đối với gan, thận của lợn, bò, cừu và dê. Quy định dự kiến được áp dụng sau 06 tháng kể từ ngày có hiệu lực.

Bên cạnh yêu cầu về dư lượng hóa chất, EU cũng ban hành Thông báo G/SPS/N/EU/962 liên quan đến Quy định (EU) 2026/908, bổ sung một số sản phẩm hỗn hợp ổn định bảo quản có rủi ro thấp vào danh sách được miễn kiểm tra chính thức tại trạm kiểm soát biên giới.

Các sản phẩm thuộc diện điều chỉnh gồm một số nhóm hàng như ngũ cốc, khoai tây chiên, rau, quả và hạt đã qua chế biến hoặc bảo quản, nước xốt, gia vị và bánh kẹo. Quy định đồng thời sửa đổi yêu cầu về chứng nhận tư nhân đối với các lô hàng sản phẩm hỗn hợp và có hiệu lực vào ngày thứ 20 kể từ ngày công bố trên Công báo Liên minh châu Âu.

Một nội dung khác là Thông báo G/SPS/N/EU/687/Add.1 về Quy định (EU) 2026/1388 đối với thực vật được tạo ra bằng một số kỹ thuật gen mới và các sản phẩm thu được từ các thực vật này. Quy định áp dụng từ ngày 17/7/2028, trong khi các Điều 29, 30 và 31 được áp dụng từ ngày 16/7/2026.

Ngoài các nội dung trên, EU còn cập nhật nhiều quy định liên quan đến mức dư lượng tối đa của các hoạt chất 1,4-dimethylnaphthalene, chlormequat, metribuzin, metribuzin-DADK, terbuthylazine và triclopyr; biện pháp kiểm dịch thực vật đối với Meloidogyne graminicola; đính chính MRL của fenpropathrin; cấp phép vermiculite và dự thảo cấp phép tinh dầu lá nguyệt quế làm phụ gia thức ăn chăn nuôi.

Những thay đổi từ EU tiếp tục cho thấy xu hướng nâng cao yêu cầu về an toàn thực phẩm và kiểm soát chất lượng đối với hàng hóa nhập khẩu. Đây là tín hiệu để doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam chủ động rà soát quy trình sản xuất, kiểm soát vật tư đầu vào, tăng cường kiểm nghiệm và cập nhật thường xuyên các quy định SPS nhằm bảo đảm khả năng tiếp cận thị trường.

Bên cạnh những thay đổi từ Liên minh châu Âu, nhiều thị trường xuất khẩu lớn khác như Hoa Kỳ, Hàn Quốc và Trung Quốc cũng đưa ra các thông báo SPS mới liên quan đến dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, tiêu chuẩn thực phẩm, kiểm dịch thực vật và quản lý động vật, vật liệu di truyền động vật xuất nhập khẩu.

Trong tổng số 51 thông báo SPS được Văn phòng SPS Việt Nam tổng hợp từ ngày 01/7 - 15/7/2026, Hoa Kỳ có 07 thông báo tập trung vào mức dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, việc hủy đăng ký sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật và sửa đổi quy định về phụ gia thực phẩm.

Đáng chú ý, tại Thông báo G/SPS/N/USA/3576, Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ tiếp nhận các đề nghị tự nguyện hủy đăng ký một số sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật và/hoặc sửa đổi đăng ký để chấm dứt một số mục đích sử dụng. Trong đó có sản phẩm chứa captan dùng trong gia đình và làm vườn, sản phẩm chứa oxytetracycline hydrochloride sử dụng đối với nhóm cây có múi.

Bên cạnh đó, Thông báo G/SPS/N/USA/3577 đề cập việc Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ tiếp nhận kiến nghị sửa đổi quy định, cho phép sử dụng bức xạ ion hóa với liều không vượt quá 30 kGy nhằm giảm tác nhân gây bệnh trong bột mì tăng cường vi chất chưa qua xử lý.

Nhóm thông báo còn lại của Hoa Kỳ liên quan đến việc quy định hoặc sửa đổi mức dư lượng tối đa đối với các hoạt chất chlormequat chloride, bifenthrin, diflufenican, epyrifenacil và fluoxapiprolin. Các mức dư lượng được áp dụng đối với nhiều nhóm hàng như lúa mạch, yến mạch, lúa mì, ngô, đậu tương, hạt cải dầu, rau ăn lá, rau ăn quả, rau họ bầu bí, hành, nho, nho khô, hạt cà phê xanh, sản phẩm có nguồn gốc động vật và thức ăn chăn nuôi.

Tại Hàn Quốc, 03 thông báo SPS mới tập trung vào tiêu chuẩn thực phẩm, thực phẩm chế biến từ nuôi cấy tế bào và kiểm dịch thực vật.

Cụ thể, Thông báo G/SPS/N/KOR/849 về dự thảo sửa đổi Tiêu chuẩn và Quy chuẩn đối với thực phẩm đề xuất điều chỉnh phạm vi áp dụng giới hạn zearalenone đối với ngô, bổ sung vỏ trấu vào danh mục nguyên liệu được sử dụng hạn chế, đồng thời quy định mới và sửa đổi mức dư lượng tối đa đối với 106 hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật; cùng với đó là việc sửa đổi, bổ sung các phương pháp kiểm nghiệm liên quan.

Thông báo G/SPS/N/KOR/848 bổ sung yêu cầu đối với nguyên liệu thực phẩm nuôi cấy tế bào và thực phẩm chế biến từ nuôi cấy tế bào trong nhóm thực phẩm chế biến có nguồn gốc động vật. Dự thảo quy định các yêu cầu về nguyên liệu, sản xuất, chế biến, phân loại sản phẩm và các chỉ tiêu vi sinh, hóa lý liên quan.

Trong khi đó, Thông báo G/SPS/N/KOR/622/Add.7 cập nhật danh mục cây ký chủ, khu vực phân bố và các loài côn trùng môi giới truyền Xylella fastidiosa, bao gồm X. taiwanensis. Sau cập nhật, danh mục quản lý gồm 23 khu vực có phân bố dịch hại, 38 loài côn trùng môi giới và 88 chi với 326 loài thực vật ký chủ. Quy định áp dụng đối với các lô hàng kèm Giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật được gửi đi từ ngày 13/7/2026.

Đối với Trung Quốc, nước này thông báo dự thảo sửa đổi Biện pháp giám sát, quản lý kiểm nghiệm, kiểm dịch đối với động vật và vật liệu di truyền động vật xuất nhập cảnh và quá cảnh.

Dự thảo nhằm hợp nhất một số quy định hiện hành, đồng thời làm rõ yêu cầu quản lý trong các khâu nhập cảnh, xuất cảnh và quá cảnh. Đối với nhập cảnh, Trung Quốc quy định việc đánh giá rủi ro, xác định danh mục được phép nhập khẩu, đăng ký cơ sở ở nước ngoài, phê duyệt kiểm dịch, giấy chứng nhận kiểm dịch và cách ly động vật nhập cảnh.

Thời gian cách ly tối thiểu được quy định gồm:

45 ngày đối với gia súc lớn và trung bình dùng làm giống;

14 ngày đối với động vật thủy sản sống;

30 ngày đối với các động vật khác, trừ trường hợp có quy định riêng.

Dự thảo cũng bổ sung các yêu cầu về kiểm dịch xuất cảnh, giám sát quá cảnh, truy xuất nguồn gốc, cảnh báo rủi ro và xử lý vi phạm.

Những thay đổi từ Hoa Kỳ, Hàn Quốc và Trung Quốc cho thấy các thị trường lớn tiếp tục nâng cao yêu cầu về kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm và phòng ngừa rủi ro dịch bệnh. Đây là những yếu tố doanh nghiệp xuất khẩu nông, lâm, thủy sản Việt Nam cần theo dõi sát để kịp thời điều chỉnh quy trình sản xuất, đáp ứng yêu cầu của từng thị trường.

Bên cạnh EU, Hoa Kỳ, Hàn Quốc và Trung Quốc, Nhật Bản và Ca-na-đa cũng tiếp tục cập nhật các quy định SPS liên quan đến kiểm dịch động vật, thức ăn chăn nuôi, lưu thông thực phẩm và mức dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Những thay đổi này phản ánh xu hướng các thị trường nhập khẩu ngày càng nâng cao yêu cầu về an toàn thực phẩm, kiểm soát dịch bệnh và quản lý rủi ro trong thương mại nông sản.

Tại Nhật Bản, nước này đã sửa đổi Luật Phòng chống bệnh truyền nhiễm gia súc và các quy định liên quan, trong đó bổ sung bệnh viêm da nổi cục vào danh mục bệnh truyền nhiễm gia súc và đưa trâu nước vào nhóm loài thuộc phạm vi quản lý đối với bệnh này.

Quy định mới cũng tăng cường kiểm tra, xử lý hàng hóa nhập khẩu trái quy định, điều chỉnh một số thủ tục kiểm dịch xuất nhập khẩu. Đồng thời, Nhật Bản loại trừ khỏi danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu đối với thức ăn cho vật nuôi cảnh không dùng làm thực phẩm nếu sản phẩm đã được xử lý ở nhiệt độ tâm sản phẩm từ 121,1°C trong ít nhất 03 phút hoặc bằng phương pháp có hiệu quả tương đương và có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền nước xuất khẩu.

Quy định của Nhật Bản có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Những thay đổi này đặt ra yêu cầu đối với doanh nghiệp xuất khẩu phải kiểm soát chặt chẽ nguồn nguyên liệu, quy trình xử lý và hồ sơ chứng nhận nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm dịch của thị trường.

Đối với Ca-na-đa, nước này đăng 05 thông báo SPS liên quan đến thức ăn chăn nuôi, lưu thông thịt đỏ giữa các tỉnh và mức dư lượng tối đa thuốc bảo vệ thực vật.

Trong đó, Thông báo G/SPS/N/CAN/1645 đề xuất sửa đổi một số quy định nhằm hài hòa Lệnh cấm tăng cường đối với thức ăn chăn nuôi với tình hình dịch tễ học hiện nay. Dự thảo cho phép sử dụng một số vật liệu có nguy cơ được chỉ định đủ điều kiện trong thức ăn cho động vật không nhai lại, thức ăn cho thú cưng và phân bón theo các điều kiện nhất định; trong khi các vật liệu này vẫn bị cấm sử dụng trong thực phẩm và thức ăn cho động vật nhai lại.

Bên cạnh đó, Thông báo G/SPS/N/CAN/1644 về dự thảo sửa đổi Quy định về thực phẩm an toàn cho người Ca-na-đa đưa ra cơ chế miễn trừ có mục tiêu, áp dụng một lần và trong thời hạn nhất định, cho phép vận chuyển, bán khối lượng nhỏ thịt đỏ giữa các tỉnh khi xảy ra tình trạng thiếu công suất giết mổ. Tuy nhiên, các yêu cầu đối với thực phẩm sản xuất, chế biến để xuất khẩu vẫn tiếp tục được áp dụng.

Các thông báo còn lại của Ca-na-đa tập trung vào việc ban hành mức dư lượng tối đa đối với fluoxapiprolin, ethiprole và spidoxamat trong hoặc trên một số hàng hóa như rau ăn lá, hành, rau họ cải, rau họ bầu bí, quả nhỏ leo giàn, quả có múi, quả dạng táo, quả hạch, nhóm hạt, thân mía và một số sản phẩm có nguồn gốc động vật.

Qua 51 thông báo SPS được cập nhật trong nửa đầu tháng 7/2026 có thể thấy, các thị trường xuất khẩu lớn đang tiếp tục hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn theo hướng chặt chẽ hơn. Đối với doanh nghiệp Việt Nam, việc chủ động theo dõi quy định SPS, kiểm soát chất lượng từ vùng nguyên liệu đến chế biến, tăng cường truy xuất nguồn gốc và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế là yếu tố quan trọng để duy trì và mở rộng thị trường xuất khẩu nông, lâm, thủy sản.

Xem và tải danh mục: 51 thông báo về các biện pháp SPS

Phạm Hùng